Kiến tạo vùng chè hữu cơ Bản Liền: Từ quy hoạch nền tảng đến chuyển đổi số toàn diện

Kiến tạo vùng chè hữu cơ Bản Liền: Từ quy hoạch nền tảng đến chuyển đổi số toàn diện

Thứ ba, 3/3/2026, 11:18 (GMT+7)
logo Tại Tọa đàm “Phát triển bền vững và nâng cao giá trị vùng chè hữu cơ Bản Liền” tổ chức tại xã Bản Liền, tỉnh Lào Cai, ông Phạm Bình Minh, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lào Cai đã nêu rõ những định hướng trọng tâm nhằm đưa chè Bản Liền phát triển theo hướng hữu cơ, hiện đại và hội nhập. Quy hoạch vùng nguyên liệu bài bản, tiêu chuẩn hóa sản xuất, cấp mã vùng trồng, đẩy mạnh chế biến sâu và thúc đẩy chuyển đổi số được xác định là những trụ cột chiến lược để hình thành hệ sinh thái chè bền vững, nâng cao giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh trong giai đoạn mới.
img_1976-1_1772289924.jpg
Ông Phạm Bình Minh, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lào Cai phát biểu tại Tọa đàm “Phát triển bền vững và nâng cao giá trị vùng chè hữu cơ Bản Liền” cho rằng chè Bản Liền phải phát triển theo hướng hữu cơ. Để làm được điều này, cần quy hoạch vùng nguyên liệu bài bản, tiêu chuẩn hóa sản xuất, cấp mã vùng trồng, đẩy mạnh chế biến sâu và thúc đẩy chuyển đổi số là những trụ cột chiến lược để hình thành hệ sinh thái chè bền vững. Ảnh Khánh Linh

Quy hoạch vùng nguyên liệu, nền tảng pháp lý cho phát triển dài hạn

Trong phần phát biểu định hướng, lãnh đạo Sở khẳng định: phát triển bền vững phải bắt đầu từ quy hoạch. Đối với chè Bản Liền, điều đó đồng nghĩa với việc tổ chức lại vùng nguyên liệu theo hướng tập trung, minh bạch và có khả năng truy xuất nguồn gốc rõ ràng.

Tỉnh đang tập trung lập bản đồ vùng trồng, chuẩn hóa ranh giới sản xuất và cấp mã số vùng nguyên liệu. Đây không chỉ là yêu cầu kỹ thuật để đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu, mà còn là công cụ quản lý hiện đại. Khi mỗi vùng chè được “định danh” bằng mã số cụ thể, toàn bộ quá trình từ chăm sóc, thu hái đến chế biến đều có thể kiểm soát và truy xuất.

Theo ông Phạm Bình Minh, trong bối cảnh thị trường ngày càng siết chặt tiêu chuẩn an toàn thực phẩm và minh bạch chuỗi cung ứng, mã vùng trồng chính là “tấm hộ chiếu” của nông sản. Không có mã số, sản phẩm khó tham gia vào các thị trường lớn.

Hiện nay, tỉnh thực hiện chính sách hỗ trợ 100% chi phí đánh giá, cấp mã số vùng trồng lần đầu phục vụ xuất khẩu. Mức hỗ trợ không quá 100 triệu đồng/dự án, phương án. Điều kiện là vùng sản xuất phải đạt quy mô tối thiểu 10 ha trở lên, hướng tới sản xuất tập trung, đồng bộ và chuyên nghiệp.

Song song với đó, công tác xây dựng thương hiệu, quản lý nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý và xác nhận bản đồ chỉ dẫn cũng được tăng cường. Việc chuẩn hóa hồ sơ pháp lý không chỉ bảo vệ thương hiệu chè Bản Liền mà còn tạo nền tảng để sản phẩm vươn xa, đặc biệt ở các thị trường đòi hỏi cao về xuất xứ và tính minh bạch.

Với định hướng phát triển hữu cơ, quy hoạch còn mang ý nghĩa bảo tồn hệ sinh thái. Sản xuất hữu cơ không đơn thuần là giảm hóa chất, mà là tái tổ chức quy trình canh tác theo hướng tôn trọng tự nhiên, duy trì độ phì của đất, bảo vệ đa dạng sinh học và cân bằng môi trường.

tea-plantation-da-lat-vietnam.jpg-2_1772440855.webp
Người dân thu hái chè tại Bản Liền được khuyến khích áp dụng quy trình hữu cơ. Ảnh Minh hoạ

Nâng cao chất lượng, chế biến sâu, gia tăng giá trị trong chuỗi

Bên cạnh quy hoạch, lãnh đạo Sở nhấn mạnh yêu cầu tiêu chuẩn hóa và nâng cao chất lượng sản phẩm. Ngành nông nghiệp định hướng hỗ trợ các hợp tác xã, doanh nghiệp áp dụng các hệ thống quản lý tiên tiến như ISO, HACCP, SSOP nhằm kiểm soát chặt chẽ quy trình sản xuất.

Tiêu chuẩn hóa không phải để hoàn thiện hồ sơ hình thức, mà là phương thức quản trị hiện đại. Khi các khâu từ thu hái, vận chuyển, sơ chế đến bảo quản được kiểm soát theo quy trình khoa học, chất lượng sản phẩm sẽ ổn định và tạo dựng niềm tin bền vững với thị trường.

Tỉnh xác định phát triển chè hữu cơ gắn với đẩy mạnh chế biến sâu là hai trụ cột quan trọng để nâng cao giá trị gia tăng. Trong nhiều năm, tỷ lệ xuất bán nguyên liệu thô còn cao, khiến giá trị thu về chưa tương xứng với tiềm năng.

Vì vậy, tỉnh khuyến khích đầu tư công nghệ chế biến hiện đại, đa dạng hóa sản phẩm như chè cao cấp, chè túi lọc, sản phẩm chiết xuất phục vụ ngành thực phẩm, đồ uống và quà tặng du lịch. Mỗi bước gia tăng hàm lượng chế biến là một bước giữ lại giá trị tại địa phương, góp phần nâng cao thu nhập cho người trồng chè.

Chương trình OCOP của tỉnh cũng được lồng ghép như một công cụ nâng hạng sản phẩm. Quá trình đánh giá, chấm điểm không chỉ để xếp hạng sao mà còn hướng dẫn các chủ thể hoàn thiện tiêu chí, cải tiến mẫu mã, bao bì và chất lượng. Các sản phẩm đạt 3 sao sẽ được định hướng nâng hạng theo lộ trình hằng năm, từng bước tiếp cận phân khúc cao hơn.

Chuyển đổi số, động lực mới cho quản trị và thị trường

Trong bối cảnh kinh tế số phát triển mạnh, chuyển đổi số được lãnh đạo Sở xác định là động lực xuyên suốt toàn bộ chuỗi giá trị chè.

Trọng tâm hiện nay là hỗ trợ các mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trong canh tác. Việc áp dụng nhật ký điện tử, tích hợp mã QR truy xuất nguồn gốc, quản lý dữ liệu thời gian thực giúp nâng cao tính minh bạch và hiệu quả quản trị.

Chuyển đổi số không chỉ dừng ở kỹ thuật canh tác mà mở rộng sang quản lý chuỗi giá trị. Khi người tiêu dùng có thể quét mã và biết rõ vùng trồng, quy trình sản xuất, chứng nhận liên quan, niềm tin thị trường được củng cố bằng dữ liệu cụ thể.

Tỉnh cũng định hướng hỗ trợ hợp tác xã và hộ dân tham gia các sàn thương mại điện tử, quảng bá sản phẩm trên môi trường số. Thực tế cho thấy nhiều hộ đã chủ động ứng dụng công nghệ, livestream giới thiệu sản phẩm, kết nối trực tiếp với người tiêu dùng.

bl16-2397-4438-2_1772440854.jpg
Những búp chè non của Bản Liền được chăm sóc và thu hái theo hướng hữu cơ. Ảnh Minh hoạ

Khi các trụ cột này được triển khai đồng bộ, chè Bản Liền không chỉ giữ vững bản sắc vùng cao mà còn từng bước khẳng định vị thế trên thị trường rộng lớn hơn. Đó không chỉ là câu chuyện của một loại cây trồng, mà là quá trình tái cấu trúc ngành chè theo hướng hiện đại, minh bạch và bền vững và khát vọng vươn xa của nông nghiệp Lào Cai trong giai đoạn mới.

Liên Huyền