Nghị quyết số 26-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt ra yêu cầu chuyển du lịch từ tăng trưởng dựa vào số lượng sang phát triển theo chiều sâu, chất lượng và giá trị gia tăng. Với hơn 3.260 km đường bờ biển, Việt Nam không chỉ có lợi thế về cảnh quan mà còn sở hữu kho tàng văn hóa, ẩm thực, nghề cá và đời sống cộng đồng ven biển đặc sắc. Khi những giá trị này được tổ chức thành một hệ sinh thái hoàn chỉnh, mỗi làng biển có thể trở thành một điểm đến, mỗi sản phẩm thủy sản có thể trở thành một câu chuyện và mỗi người dân có thể trực tiếp tham gia, thụ hưởng thành quả từ du lịch.
Một buổi sáng ở một làng biển thường bắt đầu trước khi mặt trời xuất hiện. Từ phía đường chân trời, những chiếc tàu lần lượt trở về, kéo theo âm thanh của động cơ, tiếng gọi nhau trên bến và nhịp chuyển hàng khẩn trương. Cá, tôm, mực,... được đưa khỏi khoang, phân loại rồi nhanh chóng chuyển tới chợ, nhà hàng hoặc cơ sở chế biến gần nhất. Ở phía xa, những lồng nuôi nằm trên mặt nước, nối thành một không gian sản xuất rộng lớn,… Những hình ảnh ấy không chỉ tạo nên sinh kế của cộng đồng ngư dân. Đó còn là một phần đời sống văn hóa biển, chứa đựng tri thức bản địa, tập quán sản xuất, kỹ năng ứng xử với thiên nhiên và câu chuyện của nhiều thế hệ bám biển.
Tuy nhiên, trong không ít sản phẩm du lịch hiện nay, làng biển mới chỉ xuất hiện như một điểm dừng chân ngắn. Du khách đến chụp ảnh, dùng một bữa hải sản rồi rời đi. Phần lớn giá trị về nghề cá, phương thức nuôi trồng, văn hóa cộng đồng và tri thức biển lại chưa được chuyển thành trải nghiệm có chiều sâu.
Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới đã mở ra yêu cầu thay đổi căn bản cách tiếp cận. Du lịch phải chuyển từ phát triển theo chiều rộng, dựa vào số lượng và khai thác tài nguyên đơn thuần sang chiều sâu, chất lượng, hiệu quả, bền vững và có giá trị gia tăng cao.
Đây không chỉ là định hướng riêng của ngành Du lịch. Đối với những địa phương có biển, tinh thần ấy đặt ra một câu hỏi lớn hơn để cảnh quan, nghề cá, nuôi biển, văn hóa làng chài và ẩm thực địa phương cùng tham gia vào một chuỗi giá trị, thay vì tồn tại như những hoạt động rời rạc như hiện nay.
Việt Nam có hơn 3.260 km đường bờ biển và vùng biển rộng trên 1 triệu km². Dọc chiều dài đất nước là hệ thống đảo, quần đảo, vịnh, bãi biển, đầm phá, khu bảo tồn thiên nhiên và hàng nghìn cộng đồng dân cư gắn bó lâu đời với biển. Đây là nền tảng quan trọng để phát triển du lịch nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, du lịch đường thủy, du thuyền, thể thao biển, khám phá thiên nhiên và trải nghiệm văn hóa bản địa.
Nhưng lợi thế tự nhiên không tự động trở thành lợi thế cạnh tranh. Một bãi biển đẹp có thể thu hút khách trong một thời gian, nhưng để giữ chân du khách, gia tăng mức chi tiêu và tạo sinh kế ổn định, điểm đến phải có hệ thống sản phẩm đủ sâu, đủ khác biệt và được tổ chức chuyên nghiệp.
Nghị quyết số 26-NQ/TW xác định Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, có khả năng tạo sức lan tỏa tới thương mại, dịch vụ, giao thông vận tải, công nghiệp văn hóa, công nghiệp sáng tạo, nông nghiệp, kinh tế số và kinh tế đêm. Phát triển du lịch phải bảo đảm sự gắn kết bền vững giữa kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường; đồng thời góp phần củng cố quốc phòng, an ninh và mở rộng hội nhập quốc tế.
Tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện một số nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, bà Phạm Thị Thanh Trà, Bí thư Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ, đã trình bày những nội dung cốt lõi của Nghị quyết 26 ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị khóa XIV về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới. Theo Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà, vấn đề cốt lõi là phải “chuyển đổi mô hình tăng trưởng và phương thức quản trị du lịch từ số lượng sang chất lượng”. Đây là sự chuyển đổi cần thiết khi kết quả phát triển du lịch dù rất tích cực nhưng vẫn chưa tương xứng với tiềm năng.
Theo Nghị quyết số 26-NQ/TW, năm 2025, Việt Nam đón gần 21,2 triệu lượt khách quốc tế và phục vụ khoảng 137 triệu lượt khách nội địa. Tổng thu từ khách du lịch đạt khoảng 1 triệu tỷ đồng, tăng 19% so với năm 2024; du lịch đóng góp trực tiếp gần 8,8% GDP và tạo khoảng 4,41 triệu việc làm. Trong 8 tháng năm 2026, lượng khách quốc tế đạt gần 16 triệu lượt. Đến năm 2030, Nghị quyết đặt mục tiêu du lịch đóng góp trực tiếp từ 10-12% GDP; đón 45-50 triệu lượt khách quốc tế, phục vụ 160 triệu lượt khách nội địa và đạt tổng thu từ 80-90 tỷ USD. Du lịch biển, đảo được xác định là một nhóm sản phẩm chủ lực, với định hướng hình thành các trung tâm nghỉ dưỡng biển, đảo chất lượng cao, có sức cạnh tranh quốc tế; phát triển du lịch đường thủy, du thuyền, thể thao biển và các tổ hợp dịch vụ đặc sắc.
Những mục tiêu trên cho thấy, du lịch biển không thể tiếp tục vận hành chủ yếu theo công thức bãi tắm, lưu trú và ăn uống. Một hệ sinh thái kinh tế biển cần được hình thành, trong đó hoạt động du lịch liên kết chặt chẽ với sản xuất thủy sản, nuôi biển, chế biến, ẩm thực, thương mại, giao thông, văn hóa và bảo tồn thiên nhiên.
Trao đổi với phóng viên Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường, nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Chủ tịch Hội Thủy sản Việt Nam Phùng Đức Tiến cho rằng, ngành Thủy sản nhiều năm qua chiếm khoảng 27-28% giá trị của ngành Nông nghiệp và duy trì tốc độ tăng trưởng tương đối cao. Năm 2025, sản lượng thủy sản đạt khoảng 9,95 triệu tấn, tăng 4,4%. Trong 8 tháng năm 2026, sản lượng đạt gần 6,95 triệu tấn, tăng 3,8%; kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 7,94 tỷ USD, tăng 10,9%. Theo dự báo được nguyên Thứ trưởng Phùng Đức Tiến đưa ra tại thời điểm trao đổi, sản lượng thủy sản cả năm có khả năng vượt 10 triệu tấn, kim ngạch xuất khẩu có thể đạt khoảng 11,5 tỷ USD.
Những con số ấy phản ánh năng lực sản xuất lớn, nhưng cũng mở ra một hướng tiếp cận mới. Thủy sản không chỉ được nhìn nhận dưới dạng nguyên liệu để chế biến hoặc xuất khẩu. Nếu kết nối với du lịch, mỗi vùng nuôi, cảng cá, làng chài và sản phẩm đặc trưng đều có thể tham gia vào quá trình tạo giá trị tại chỗ.
Một con tôm hùm khi bán ở dạng nguyên liệu tạo ra một mức giá trị. Nhưng khi sản phẩm ấy gắn với câu chuyện về vùng nuôi, quy trình sản xuất, trải nghiệm thu hoạch, nghệ thuật chế biến và dịch vụ ẩm thực, giá trị kinh tế có thể được mở rộng qua nhiều tầng. Đó cũng là cách giúp du lịch tạo sức lan tỏa thực chất tới người nuôi, ngư dân, cơ sở chế biến, nhà hàng, vận tải và các hộ cung cấp dịch vụ tại địa phương.
Được biết, ở Cù Lao Chàm, sức hút của hệ sinh thái biển, đời sống cư dân và danh hiệu Khu dự trữ sinh quyển thế giới đã đưa đảo trở thành một điểm đến nổi bật. Sáu tháng đầu năm 2026, Cù Lao Chàm đón hơn 124.500 lượt khách. Tuy nhiên, chương trình phổ biến vẫn chủ yếu là hành trình khoảng năm giờ gồm đi canô, tham quan một số điểm, dùng bữa hải sản và ngắm san hô. Sản phẩm gần như không thay đổi trong hơn 10 năm, khiến trải nghiệm còn mang tính “cưỡi ngựa xem hoa”.
Thực tế này cho thấy, có khách chưa đồng nghĩa với đã khai thác tốt giá trị. Nếu thời gian lưu trú ngắn, sản phẩm ít và sự tham gia của cộng đồng còn hạn chế, phần giá trị giữ lại cho địa phương sẽ không tương xứng với áp lực mà điểm đến phải tiếp nhận. Bài toán đặt ra là kéo dài hành trình trải nghiệm bằng chính những giá trị đang hiện diện trong đời sống làng biển: Nghề đánh bắt truyền thống, cách ngư dân xem con nước, quy trình nuôi tôm hùm, nuôi nhuyễn thể, nghề làm nước mắm, chế biến hải sản, đóng thuyền, đan lưới, tín ngưỡng thờ cá Ông, lễ cầu ngư và kho tàng ẩm thực địa phương. Khi đó, du lịch không còn đứng bên cạnh kinh tế biển. Du lịch trở thành một công cụ kết nối và nâng cao giá trị của toàn bộ hệ sinh thái.
Trong câu chuyện về tương lai thủy sản Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Phùng Đức Tiến nhiều lần nhấn mạnh vai trò của nuôi biển. Theo ông, khi dư địa gia tăng khai thác không còn nhiều, nuôi biển phải trở thành động lực tăng trưởng mới.
Việt Nam hiện có hơn 80.000 tàu cá, trong đó gần 28.000 tàu có chiều dài từ 15 m trở lên. Sản lượng khai thác thủy sản hằng năm khoảng 3,8 triệu tấn. Nếu trừ khoảng 200.000 tấn khai thác nội địa, sản lượng khai thác biển vào khoảng 3,6 triệu tấn. Trong khi đó, kết quả điều tra cho thấy tổng trữ lượng nguồn lợi hải sản biển Việt Nam giai đoạn 2016-2020 vào khoảng 3,95 triệu tấn. Áp lực khai thác vì vậy đã ở mức lớn. Muốn bảo đảm khả năng phục hồi của nguồn lợi, định hướng giảm cường lực khai thác là không thể trì hoãn.
“Chúng ta đã khai thác khoảng 3,6 triệu tấn rồi thì phải giảm cường lực khai thác để giữ một ngành khai thác phát triển ổn định, bền vững. Muốn giảm khai thác thì phải chuyển nghề, chuyển đổi nghề. Vấn đề là các tỉnh tổ chức thực hiện để bảo đảm đời sống, sinh kế cho bà con ngư dân”, nguyên Thứ trưởng Phùng Đức Tiến phân tích.
Nuôi biển mở ra một phần lời giải cho quá trình chuyển đổi này. Thực hiện Quyết định số 1664/QĐ-TTg về Đề án phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển, giai đoạn 2021-2025, lĩnh vực nuôi biển đạt tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 8,4%. Đến năm 2025, sản lượng nuôi biển đạt khoảng 859.000 tấn.
Mục tiêu đến năm 2030 là đưa sản lượng lên khoảng 1,45 triệu tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt từ 1,8 đến 2 tỷ USD. Đến năm 2025, giá trị xuất khẩu sản phẩm nuôi biển đã đạt trên 1,2 tỷ USD và tiến gần mức 1,3 tỷ USD. Trong đó, tôm hùm đóng góp khoảng 850 triệu USD; cá biển trên 100 triệu USD; nhóm cua, ghẹ và nhuyễn thể hai mảnh vỏ trên 250 triệu USD.
Tuy nhiên, giá trị của nuôi biển sẽ không chỉ nằm trong các chỉ tiêu về sản lượng và xuất khẩu. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy vùng nuôi biển hiện đại hoàn toàn có thể trở thành một bộ phận của sản phẩm du lịch. Nguyên Thứ trưởng, Chủ tịch Hội Thủy sản Việt Nam Phùng Đức Tiến kể lại trải nghiệm trong hai chuyến khảo sát tại Na Uy: “Tôi đi Na Uy, họ có 49 trang trại nuôi biển, một ngày cung cấp 43 triệu suất ăn cá hồi. Chạy theo một triền như thế là 49 trang trại nuôi biển đều trở thành điểm đến của khách du lịch”.
Điều tạo nên sức hấp dẫn không chỉ là quy mô trang trại. Du khách được tiếp cận một chuỗi sản xuất hiện đại, theo dõi quá trình chăm sóc, thu hoạch và phân loại cá. Thủy sản được đưa vào hệ thống chế biến ngay tại chỗ; sản phẩm đạt điều kiện được lựa chọn, còn sản phẩm không đáp ứng yêu cầu được loại khỏi dây chuyền. Đằng sau một chuyến tham quan là câu chuyện về trình độ công nghệ, tiêu chuẩn sản xuất, văn hóa ẩm thực và năng lực quản trị của một quốc gia biển.
Mô hình này gợi mở nhiều khả năng cho Việt Nam. Một trang trại nuôi biển đủ điều kiện có thể xây dựng khu vực đón khách tách biệt với vùng sản xuất; tổ chức không gian quan sát, thuyết minh quy trình nuôi, giới thiệu hệ sinh thái, trải nghiệm thu hoạch và thưởng thức sản phẩm.
Tại các làng biển, du khách có thể theo chân người dân tìm hiểu nghề nuôi tôm hùm, cá biển hoặc nhuyễn thể; tham gia một số công đoạn phù hợp, nghe kể về mùa vụ, con nước, cách phòng tránh bão và phương pháp bảo vệ môi trường vùng nuôi. Nhưng để biến vùng nuôi thành điểm đến, không thể làm theo cách tự phát. Yêu cầu đầu tiên phải là an toàn. Hoạt động tham quan không được ảnh hưởng đến quy trình sản xuất, an toàn sinh học, phòng chống dịch bệnh và khả năng chịu tải của vùng biển.
Khu vực tiếp nhận khách cần có lối đi, phương tiện bảo hộ, quy trình ứng phó sự cố và nhân lực hướng dẫn được đào tạo. Sản phẩm phục vụ du khách phải bảo đảm an toàn thực phẩm, truy xuất được nguồn gốc và tuân thủ tiêu chuẩn môi trường.
Quan trọng hơn, trải nghiệm phải được xây dựng thành một câu chuyện có giá trị. Nếu du khách chỉ ra lồng bè để chụp ảnh rồi trở về, sản phẩm rất dễ rơi vào tình trạng đơn điệu. Nhưng nếu họ được hiểu về vòng đời của vật nuôi, công nghệ quan trắc, kiểm soát chất lượng nước, phòng trị bệnh, bảo vệ nguồn lợi và vai trò của cộng đồng, chuyến đi sẽ mang nội dung giáo dục và giá trị nhận thức rõ rệt.
Theo nguyên Thứ trưởng Phùng Đức Tiến, nuôi biển hiện đại phải được tổ chức theo chuỗi: “Phải làm từ nghiên cứu con giống, tổ chức sản xuất, thu hoạch, chọn lọc, sơ chế, bảo quản, chế biến đến xuất khẩu. Chúng ta đã có một số chuỗi, nhưng vấn đề là phải bảo đảm được chuỗi sản phẩm”.
Khi kết nối du lịch vào chuỗi này, giá trị được mở rộng thêm một lần nữa. Hoạt động sản xuất tạo ra nguyên liệu; chế biến tạo ra sản phẩm; ẩm thực và du lịch tạo ra trải nghiệm; truyền thông tạo ra thương hiệu cho vùng biển và sản phẩm địa phương.
Khánh Hòa là một trong những địa phương có điều kiện rõ nét để thử nghiệm cách tiếp cận đó. Khu vực này vừa có thế mạnh về nghỉ dưỡng biển, vừa có hoạt động nuôi tôm hùm, cá biển và các mô hình nuôi công nghệ cao. Trong bốn tháng đầu năm 2026, Khánh Hòa đón khoảng 3,5 triệu lượt khách lưu trú, tăng hơn 24% so với cùng kỳ năm trước; tổng thu từ du lịch đạt hơn 27.400 tỷ đồng, tăng gần 35%. Địa phương đang định hướng gắn du lịch với thương mại và đầu tư để tạo thành một “tam giác động lực” tăng trưởng.
Nếu các tuyến du lịch nghỉ dưỡng được kết nối với vùng nuôi, làng chài, cơ sở chế biến và ẩm thực bản địa, dòng khách có thể được phân bổ rộng hơn. Thay vì tập trung trong khu nghỉ dưỡng, chi tiêu của du khách sẽ lan tỏa tới nhiều chủ thể trong nền kinh tế địa phương. Đây chính là tinh thần phát triển du lịch theo hệ sinh thái mà Nghị quyết số 26-NQ/TW đặt ra: Du lịch vừa tạo động lực cho các ngành khác, vừa tiếp nhận giá trị văn hóa, sản xuất và sáng tạo từ những ngành ấy để nâng cao chất lượng trải nghiệm.
Một làng biển có thể trở thành điểm đến, nhưng không phải bằng cách thay thế toàn bộ hoạt động truyền thống bằng dịch vụ du lịch. Giá trị của làng biển nằm ở chính đời sống thật, công việc thật và bản sắc đã hình thành qua nhiều thế hệ. Nếu ngư dân chỉ rời tàu để trở thành lao động thời vụ trong các khu du lịch, quá trình chuyển đổi chưa chắc đã tạo ra sinh kế bền vững. Nếu nhà đầu tư khai thác cảnh quan, còn cộng đồng bị thu hẹp không gian sản xuất và quyền tiếp cận biển, du lịch sẽ khó nhận được sự đồng thuận lâu dài.
Nghị quyết số 26-NQ/TW xác định rất rõ: Doanh nghiệp là lực lượng tiên phong, nhưng Nhân dân phải là chủ thể tham gia và thụ hưởng. Nghị quyết cũng yêu cầu hỗ trợ, đào tạo kỹ năng cho lao động nông thôn, người dân vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo để tạo sinh kế bền vững từ du lịch, nhất là du lịch cộng đồng.
Đối với các làng biển, tinh thần này cần được cụ thể hóa bằng cơ chế để người dân tham gia ngay từ quá trình xây dựng sản phẩm. Họ không chỉ cung cấp địa điểm, món ăn hay sức lao động. Tri thức của ngư dân về biển, mùa vụ, nguồn lợi, thời tiết, nghề truyền thống và văn hóa cộng đồng phải trở thành một phần có giá trị trong sản phẩm.
Người dân cần được đào tạo về an toàn, giao tiếp, thuyết minh, tổ chức dịch vụ, bảo vệ môi trường, quản trị tài chính và sử dụng nền tảng số. Các hộ có thể liên kết trong tổ hợp tác hoặc hợp tác xã để thống nhất chất lượng, phân phối khách, chia sẻ lợi ích và kiểm soát tác động tới cộng đồng.
Mỗi nhóm dân cư có thể tham gia một khâu phù hợp. Ngư dân trực tiếp giới thiệu nghề biển; phụ nữ phát triển ẩm thực, chế biến và sản phẩm lưu niệm; thanh niên đảm nhiệm truyền thông số, hướng dẫn trải nghiệm hoặc tổ chức các hoạt động thể thao biển. Người cao tuổi có thể kể lại lịch sử làng, phong tục, tín ngưỡng và những thay đổi của hệ sinh thái qua thời gian. Như vậy, du lịch không làm mất đi cấu trúc xã hội của làng biển mà bổ sung một lớp sinh kế mới trên nền tảng những giá trị sẵn có.
Đây cũng là hướng hỗ trợ quá trình chuyển đổi nghề trong khai thác thủy sản. Theo nguyên Thứ trưởng Phùng Đức Tiến, nhiều gia đình gắn bó với nghề biển theo phương thức cha truyền con nối, trong khi kỹ năng và cơ hội chuyển sang lĩnh vực khác còn hạn chế. Giảm cường lực khai thác là cần thiết để bảo vệ nguồn lợi. Nhưng nếu thiếu đào tạo, thiếu vốn và thiếu thị trường, ngư dân rất khó rời bỏ phương thức mưu sinh đã theo họ qua nhiều thế hệ.
Du lịch cộng đồng, dịch vụ hậu cần, vận chuyển, trải nghiệm nghề cá, ẩm thực, sơ chế và giới thiệu sản phẩm có thể trở thành những lựa chọn bổ sung. Tuy nhiên, đây không phải giải pháp có thể áp dụng giống nhau cho mọi địa phương.
Mỗi làng biển phải xác định sản phẩm dựa trên tài nguyên, năng lực cộng đồng và khả năng tiếp cận thị trường. Nơi có hệ sinh thái đặc sắc có thể phát triển du lịch giáo dục và trải nghiệm thiên nhiên. Nơi có nghề truyền thống nổi bật có thể xây dựng sản phẩm văn hóa. Nơi có vùng nuôi hiện đại có thể kết nối tham quan sản xuất. Nơi có thế mạnh ẩm thực có thể tổ chức không gian trải nghiệm và chế biến sản phẩm bản địa.
Tinh thần “mỗi địa phương có một sản phẩm du lịch đặc thù” trong Nghị quyết số 26-NQ/TW vì thế không nên được hiểu đơn giản là mỗi nơi đặt một tên gọi khác nhau cho sản phẩm tương tự. Sự khác biệt phải bắt đầu từ những giá trị thật của cộng đồng và được nâng lên bằng thiết kế sáng tạo, tiêu chuẩn dịch vụ và cách kể chuyện chuyên nghiệp.
Cùng với sự tham gia của người dân, doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong tổ chức thị trường, đầu tư hạ tầng, chuẩn hóa dịch vụ và kết nối khách. Các doanh nghiệp lớn có thể dẫn dắt chuỗi, nhưng cần tạo không gian cho doanh nghiệp nhỏ, hợp tác xã và hộ dân cùng tham gia.
Một tuyến du lịch biển chất lượng cao không chỉ kết nối sân bay, khách sạn và bãi biển. Tuyến ấy có thể liên kết cảng cá, làng chài, khu nuôi biển, cơ sở chế biến, nhà hàng, làng nghề, điểm văn hóa và khu bảo tồn thành một hành trình hoàn chỉnh.
Trong hành trình đó, sản phẩm địa phương phải có chỗ đứng tương xứng. Hải sản có nguồn gốc rõ ràng, nước mắm, sản phẩm chế biến, đồ thủ công, câu chuyện nghề truyền thống và tri thức bản địa đều có thể tạo thêm doanh thu. Đây là con đường để tăng giá trị nội địa và phát triển xuất khẩu tại chỗ.
Nghị quyết số 26-NQ/TW cũng yêu cầu tăng cường liên kết chuỗi giá trị giữa lữ hành, vận chuyển, lưu trú, dịch vụ và sản phẩm địa phương. Nếu triển khai đúng, phần chi tiêu của du khách sẽ không chỉ dừng ở doanh nghiệp lưu trú mà lan tỏa đến người sản xuất và cộng đồng. Tất nhiên, không phải làng biển nào cũng cần trở thành một điểm du lịch đông khách. Việc phát triển phải căn cứ vào khả năng chịu tải, điều kiện hạ tầng và mong muốn của người dân. Có nơi phù hợp với mô hình quy mô nhỏ, khách lưu trú dài ngày và trải nghiệm chuyên sâu hơn là đón lượng khách lớn trong thời gian ngắn. Số lượng khách không thể là thước đo duy nhất. Một nhóm khách nhỏ, tôn trọng văn hóa, lưu trú lâu và sử dụng nhiều dịch vụ địa phương có thể mang lại giá trị cao hơn một dòng khách lớn nhưng chỉ ghé qua trong vài giờ. Đó chính là sự chuyển đổi từ số lượng sang chất lượng mà Nghị quyết số 26-NQ/TW yêu cầu.
Từ những chuyến tàu trở về lúc bình minh, những lồng nuôi nằm trên mặt nước đến bữa cơm mang hương vị của biển, mỗi làng biển đều có những câu chuyện riêng. Điều còn thiếu là một cơ chế để nhận diện, tổ chức và chuyển những câu chuyện ấy thành giá trị mà không làm mất đi tính chân thực.
Du lịch biển Việt Nam chỉ có thể tạo bước đột phá khi vượt khỏi việc khai thác cảnh quan đơn thuần. Một bờ biển đẹp có thể đưa du khách đến. Nhưng văn hóa, con người, trải nghiệm và trách nhiệm với thiên nhiên mới là những yếu tố giữ họ ở lại, khiến họ chi tiêu nhiều hơn và muốn quay trở lại.
Khi nghề cá, nuôi biển, ẩm thực và văn hóa cộng đồng cùng tham gia vào chuỗi du lịch, biển không chỉ cho sản lượng. Biển tạo ra việc làm, sinh kế, trải nghiệm, thương hiệu và niềm tự hào của địa phương. Và khi người dân thực sự trở thành chủ thể, mỗi làng biển sẽ không còn là phông nền của những chuyến tham quan. Đó sẽ là một phần sống động của nền kinh tế du lịch, nơi giá trị được hình thành từ chính văn hóa lao động, tri thức bản địa và khát vọng vươn lên của những con người đang ngày ngày sống cùng biển.
Đón đọc kỳ 2: Du lịch biển chỉ có thể đi xa khi môi trường, hệ sinh thái và bản sắc cộng đồng được bảo vệ. Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục phân tích những giới hạn cần nhận diện và các điều kiện để phát triển du lịch biển xanh, bền vững, có trách nhiệm.