Trong những năm gần đây, công tác giảm nghèo ở Việt Nam đạt nhiều thành tựu nổi bật. Việc áp dụng chuẩn nghèo đa chiều cùng sự vào cuộc mạnh mẽ của hệ thống chính trị đã giúp tỷ lệ hộ nghèo toàn quốc giảm nhanh và bền vững hơn so với giai đoạn trước.
Theo thông báo kèm Quyết định 217/QĐ-BLĐTBXH, năm 2024, tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm còn khoảng 1,93% - mức giảm được đánh giá là ấn tượng đối với một quốc gia có nhiều vùng dân tộc thiểu số và địa hình hiểm trở. Tuy nhiên, đằng sau kết quả tích cực ấy là những thách thức chưa từng giảm bớt ở các tỉnh miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nơi mà nguy cơ tái nghèo vẫn đang hiện hữu từng ngày.
Ba tỉnh Sơn La, Tuyên Quang và Điện Biên - đại diện cho khu vực trung du, miền núi phía Bắc - là những ví dụ điển hình cho bức tranh vừa sáng vừa tối này. Dù số hộ nghèo giảm mạnh, nhưng tính bền vững của kết quả vẫn là bài toán khó khi người dân còn phụ thuộc vào nông nghiệp truyền thống, điều kiện hạ tầng hạn chế và chịu tác động nặng nề của thiên tai, biến đổi khí hậu.
Giảm nghèo nhanh nhưng nguy cơ tái nghèo vẫn hiện hữu ở vùng cao
Những năm qua, hàng chục nghìn hộ dân ở Sơn La, Tuyên Quang và Điện Biên đã thoát nghèo nhờ các chương trình hỗ trợ sinh kế, vốn vay ưu đãi, nhà ở, chuyển đổi cây trồng vật nuôi. Nhưng quá trình thoát nghèo nhanh không đồng nghĩa với việc thoát nghèo bền vững.
VietnamNet cảnh báo rằng, dù tỷ lệ hộ nghèo vùng dân tộc thiểu số giảm mạnh, nhưng "nguy cơ tái nghèo vẫn rất lớn do sinh kế bấp bênh, thiên tai diễn biến phức tạp và hạ tầng còn hạn chế".
Một trong những nguyên nhân khiến kết quả giảm nghèo ở vùng cao thiếu bền vững là do thu nhập của nhiều hộ mới thoát nghèo vẫn nằm ở mức rất thấp, chỉ cao hơn chuẩn nghèo vài trăm nghìn đồng mỗi tháng. Chỉ cần một đợt mất mùa, giá nông sản xuống thấp hoặc dịch bệnh xảy ra trên gia súc, gia cầm, nhiều hộ lập tức quay trở lại nghèo.
Ở Sơn La, không ít hộ trồng xoài, nhãn, mận cho biết họ phải bán rẻ vào thời điểm chính vụ do thiếu kho lạnh, thiếu khả năng chế biến nên dễ tổn thương trước biến động thị trường. Một nông dân xã Tô Múa (Vân Hồ, Sơn La) chia sẻ trong một buổi họp bản: "Nhà tôi ba năm nay thoát nghèo rồi, nhưng chỉ cần mất mùa hoặc giá xuống là lại khổ ngay. Chúng tôi chỉ biết làm nương làm rẫy, không có nghề phụ, nên rất lo tái nghèo".
Điện Biên cũng ghi nhận hàng loạt trường hợp tái nghèo do thiên tai. Mỗi đợt rét đậm khiến hàng trăm con trâu bò bị chết, gây thiệt hại lớn cho người dân. Với người Mông, người Khơ Mú, trâu bò vừa là tư liệu sản xuất vừa là tài sản tích lũy. Mất đàn gia súc tức là mất toàn bộ vốn sinh kế.
Tại Tuyên Quang, tình trạng giá cam, bưởi dao động mạnh trong ba năm gần đây khiến hàng nghìn hộ trồng cây ăn quả rơi vào cảnh bấp bênh. Nhìn chung, lãnh đạo địa phương thừa nhận: "Thoát nghèo là bước dễ hơn, còn giữ được mức sống đó mới là khó nhất. Nhiều hộ dân vùng sâu, vùng xa vẫn sống phụ thuộc vào một nguồn thu duy nhất". Những câu chuyện như vậy phản ánh rõ sự mong manh của thành quả giảm nghèo vùng cao.
Hạ tầng thiếu đồng bộ - điểm nghẽn lớn khiến hộ dân khó thoát nghèo bền vững
Ở vùng cao, chuyện nghèo không chỉ nằm ở thu nhập, mà còn nằm ở chỗ người dân có thể tiếp cận các dịch vụ cơ bản thuận lợi đến đâu. Hạ tầng giao thông, điện, nước, y tế, giáo dục, viễn thông và hạ tầng số chính là “xương sống” để mở đường cho phát triển. Khi hạ tầng yếu, mọi chính sách hỗ trợ phía trên đều khó phát huy hết hiệu quả.
Sau một số chuyến thực tế cho thấy, một trong những khó khăn đặc trưng của vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa: “Khó khăn giảm nghèo bền vững vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa bao gồm thiên tai, bão lũ thường xuyên, hạ tầng yếu kém, thiếu vốn và cơ hội sinh kế, tiếp cận dịch vụ xã hội hạn chế và nguồn lực hạn hẹp… Những yếu tố này làm chậm quá trình giảm nghèo, tăng nguy cơ tái nghèo”.
Tại một số tỉnh miền núi phía Bắc, trong đó có Sơn La, Tuyên Quang, Điện Biên: đường sá chưa thông suốt, trường lớp - trạm y tế - chợ trung tâm cách xa bản làng, người dân khó tiếp cận dịch vụ công, trẻ em đi học vất vả, nông sản ra khỏi nương rẫy là phụ thuộc hoàn toàn vào đường liên thôn, liên xã.
Tại Sơn La, nhờ Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ 21,66% năm 2021 xuống còn 10,89% vào giữa năm 2025, dự kiến cuối năm 2025 còn khoảng 7,89%. Để đạt được con số đó, tỉnh đã phải dành phần lớn nguồn lực cho hạ tầng: kéo điện, mở đường, công trình nước sinh hoạt, trường học, trạm y tế. Tuy vậy, chính các báo cáo của tỉnh cũng thừa nhận một thực tế là vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới vẫn còn nhiều điểm “trắng” về hạ tầng, nhất là đường giao thông nông thôn, công trình thủy lợi quy mô nhỏ, hạ tầng số. Điều đó khiến chi phí tiếp cận dịch vụ y tế, giáo dục, thị trường của người nghèo luôn cao hơn mặt bằng chung.
Với Điện Biên, một tỉnh miền núi biên giới có địa hình chia cắt mạnh, lãnh đạo địa phương đánh giá, nguồn vốn hơn 2.063 tỷ đồng của Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021 - 2025 là “nguồn lực quan trọng để đầu tư hạ tầng, hỗ trợ sản xuất, nâng cao thu nhập, đặc biệt cho đồng bào dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa, biên giới”. Nhiều tuyến đường liên thôn, cầu dân sinh, công trình nước sinh hoạt, trường lớp đã được xây mới hoặc nâng cấp. Tuy vậy, địa hình phức tạp khiến vẫn còn không ít bản làng mùa mưa bị cô lập, mùa khô thiếu nước, đường đất lầy lội, ảnh hưởng trực tiếp đến tiêu thụ nông sản, đi lại chữa bệnh, đi học của học sinh.
Không chỉ giao thông, hạ tầng dịch vụ xã hội cũng là một “điểm nghẽn mềm”. Các nghiên cứu về giảm nghèo vùng dân tộc thiểu số cho thấy, chênh lệch trong tiếp cận giáo dục, y tế, nước sạch, thông tin giữa miền núi và đồng bằng vẫn rất lớn, và “đây là một trong những yếu tố duy trì khoảng cách nghèo, đồng thời làm tăng rủi ro tái nghèo khi gia đình gặp biến cố”. Khi trạm y tế xã thiếu bác sĩ, trường lớp xuống cấp, đường đến trường xa - trẻ em dễ bỏ học, người lớn bệnh tật không được điều trị kịp thời, sức lao động suy giảm, khả năng tham gia thị trường lao động cũng bị hạn chế.
Một góc nhìn khác từ các bài viết về phát triển giao thông gắn với giảm nghèo đa chiều cho thấy, nơi nào đường xá được đầu tư bài bản, kết nối được các vùng sản xuất với trung tâm tiêu thụ, nơi đó tốc độ giảm nghèo nhanh và bền vững hơn thấy rõ. Hạ tầng giao thông được coi là “điều kiện tiên quyết” để người dân miền núi có thể bán sản phẩm với giá tốt hơn, tiếp cận dịch vụ tốt hơn và từ đó thoát nghèo một cách chủ động.
Nhìn từ Sơn La, Tuyên Quang, Điện Biên, có thể thấy rất rõ một quy luật, những bản làng nào còn cách trở, mùa mưa lũ dễ bị cô lập, đường đi khó khăn thì ở đó tỷ lệ hộ nghèo thường cao hơn, và nguy cơ tái nghèo cũng lớn hơn. Chính vì vậy, nếu hạ tầng không được đầu tư đồng bộ và có tầm nhìn dài hạn, mọi nỗ lực hỗ trợ sinh kế, vốn, khoa học kỹ thuật cho người dân rất khó phát huy trọn vẹn, và câu chuyện giảm nghèo bền vững sẽ còn nhiều việc phải làm.
Sinh kế dựa vào nông nghiệp truyền thống và nỗi lo cố hữu của vùng dân tộc thiểu số
Một trong những nguyên nhân cốt lõi khiến nguy cơ tái nghèo ở vùng dân tộc thiểu số luôn ở mức cao là do sinh kế của người dân còn phụ thuộc gần như hoàn toàn vào nông nghiệp truyền thống. Bộ Khoa học và Công nghệ trong báo cáo nghiên cứu về giảm nghèo vùng dân tộc thiểu số nhấn mạnh: “Phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ, khả năng chống chịu thấp khiến nguy cơ tái nghèo luôn ở mức cao”.
Hiện nay, phần lớn hộ dân tộc thiểu số ở Sơn La, Điện Biên, Tuyên Quang vẫn duy trì mô hình kinh tế hộ truyền thống dựa vào trồng ngô, sắn, lúa nương; trồng cây ăn quả theo mùa như xoài, nhãn, cam, bưởi; chăn nuôi nhỏ lẻ (trâu, bò, lợn, gà); khai thác lâm sản phụ như tre, nứa, măng, nấm; lao động thời vụ theo mùa vụ.
Các mô hình này có ưu điểm là phù hợp điều kiện địa hình và tập quán canh tác của đồng bào, nhưng lại mang những hạn chế cơ bản như quy mô nhỏ, giá trị thấp, thiếu liên kết sản xuất, thiếu công nghệ bảo quản và chế biến, đặc biệt phụ thuộc rất lớn vào thời tiết.
Điều đó khiến nguồn thu của người dân không ổn định, không đủ để tích lũy, không có khoản dự phòng khi gặp rủi ro. Chỉ cần một đợt thiên tai như hạn hán, mưa đá, lũ quét hay một đợt rét đậm kéo dài là công sức cả năm có thể mất trắng. Ở vùng cao, các hiện tượng thời tiết cực đoan không còn là chuyện bất ngờ mà diễn ra thường xuyên hơn do tác động của biến đổi khí hậu.
Một chuyên gia phát triển vùng cao trong hội thảo về giảm nghèo bền vững đã nhận xét: “Đồng bào vùng cao thiếu điều kiện tiếp cận thị trường, kỹ năng sản xuất hạn chế, thu nhập phụ thuộc vào thiên nhiên nên khả năng tái nghèo luôn rất cao”. Bên cạnh yếu tố thiên nhiên, người dân còn thiếu các công cụ để giảm rủi ro kinh tế như: không có bảo hiểm nông nghiệp, chưa tiếp cận được tín dụng sản xuất quy mô lớn, thiếu ngành nghề phi nông nghiệp để tạo nguồn thu ổn định, hạn chế tiếp cận thông tin thị trường và kỹ thuật mới. Chính vì vậy, dù nhiều hộ đã thoát nghèo nhờ một mùa cây ăn quả bội thu, nhờ vài lứa chăn nuôi thuận lợi, nhưng sự bền vững không được đảm bảo.
Từ Sơn La, Tuyên Quang đến Điện Biên - những lát cắt chung về nguy cơ tái nghèo
Dù có điều kiện tự nhiên và sản xuất khác nhau, cả 03 tỉnh Sơn La, Tuyên Quang và Điện Biên đều cho thấy một mẫu số chung đó là, sinh kế phụ thuộc vào một vài hoạt động nông nghiệp dễ tổn thương, cùng hạ tầng hạn chế và thiên tai diễn biến phức tạp.
Sơn La là “thủ phủ cây ăn quả” của miền Bắc, nhưng do thiếu cơ sở chế biến và bảo quản, sản phẩm phụ thuộc thương lái. Vào chính vụ, nông dân thường phải bán rẻ, giá chỉ bằng 30 - 40% so với trái vụ. Khi gặp mưa đá hoặc mất mùa, nhiều hộ lập tức rơi lại vào tái nghèo.
Tuyên Quang, các huyện Na Hang, Lâm Bình có điều kiện sản xuất khó khăn, giao thông chưa đồng bộ khiến nông sản khó tiếp cận thị trường lớn. Giá cam, bưởi từng là “cứu cánh” nhưng ba năm gần đây biến động mạnh, có năm xuống thấp khiến hộ trồng cây ăn quả gần như không có lãi.
Điện Biên, thiên tai xảy ra gần như hằng năm. Rét đậm kéo dài gây chết hàng trăm gia súc; lũ quét và sạt lở đất phá hủy ruộng nương. Người dân khó tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ vì địa bàn xa, giao thông khó khăn. Nhiều hộ vừa thoát nghèo nhờ chăn nuôi nhưng sau một mùa rét đã mất toàn bộ đàn trâu bò - tài sản tích lũy nhiều năm. Dù khác nhau về địa hình, dân cư và mô hình sản xuất, cả ba tỉnh đều thể hiện rõ rằng, thoát nghèo đã khó, nhưng giữ được mức sống ổn định còn khó gấp nhiều lần.
Sinh kế đơn điệu, thiếu ngành nghề mới, hạ tầng chưa hoàn thiện, thị trường tiêu thụ bấp bênh, cùng với tác động ngày càng lớn của biến đổi khí hậu khiến nguy cơ tái nghèo luôn hiện hữu.
Và hành trình bước sang “điểm nóng” tái nghèo ở vùng cao
Nhìn tổng thể, Sơn La, Tuyên Quang và Điện Biên đều đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong công tác giảm nghèo. Nhưng bức tranh thực tế cho thấy, thành quả ấy vẫn còn mong manh khi sinh kế người dân phụ thuộc lớn vào nông nghiệp truyền thống, hạ tầng còn thiếu đồng bộ và rủi ro thiên tai ngày một gia tăng. “Thoát nghèo” vì thế không còn là đích đến, mà chỉ là bước đầu của một hành trình dài hơn, đòi hỏi sự bền bỉ, chủ động và có chiến lược.
Muốn giảm nghèo bền vững, các địa phương vùng cao không chỉ cần nguồn lực đầu tư mạnh mẽ, mà còn cần tạo ra nền tảng sinh kế mới ổn định hơn, đa dạng hơn, thích ứng tốt hơn trước biến đổi khí hậu. Đồng thời, cần tiếp tục thu hẹp khoảng cách hạ tầng, dịch vụ xã hội giữa miền núi và đồng bằng để người dân có điều kiện vươn lên bằng chính nội lực của mình.
Tuy nhiên, câu hỏi lớn nhất vẫn còn ở phía trước. Những vùng nào đang là “điểm nóng” tái nghèo? Những nguyên nhân nào khiến người dân dù thoát nghèo vẫn dễ rơi trở lại vòng luẩn quẩn?. Đó sẽ là nội dung được phân tích sâu trong Kỳ 2 của tuyến bài, với trọng tâm nhìn thẳng vào các khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất bởi thiên tai, địa hình hiểm trở và thiếu cơ hội phát triển.
Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường trân trọng mời bạn đọc đón đọc Kỳ 2: “Đi sâu vào ‘điểm nóng’ tái nghèo: vùng dân tộc thiểu số, miền núi, thiên tai”. Bài viết sẽ trình bày những phân tích chi tiết hơn, với hình ảnh thực tế, số liệu chính thống và những câu chuyện cụ thể từ người dân vùng cao.