Nếu ở Kỳ 1, câu chuyện tập trung vào bức tranh chung: từ thoát nghèo đến giữ nghèo bền vững, thì sang Kỳ 2, “điểm nóng” hiện lên rõ nét hơn ở những vùng dân tộc thiểu số, miền núi - nơi thiên tai, địa hình, sinh kế và hạ tầng chồng lấn, tạo thành vòng xoáy khiến nguy cơ tái nghèo luôn thường trực.
Theo công bố của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (trước đây) nay là Bộ Nội vụ, năm 2024, tỷ lệ nghèo đa chiều của cả nước là 4,06%. Nhưng riêng vùng trung du và miền núi phía Bắc, con số này lên tới 14,98% với gần 487 nghìn hộ nghèo và cận nghèo đa chiều, cao gần gấp bốn lần mức chung của cả nước. Điều này cho thấy, giảm nghèo ở vùng núi không chỉ là “đi chậm hơn” mà còn đối mặt với rủi ro tái nghèo cao hơn rất nhiều.
Ở một số vùng trung du, miền núi phía Bắc và Tây Nguyên, tỷ lệ hộ nghèo vẫn cao, “có nơi lên đến 50 - 70%, nguy cơ tái nghèo còn lớn, một bộ phận người dân vẫn trông chờ hỗ trợ”. Trong bức tranh đó, các tỉnh miền núi như Sơn La, Tuyên Quang, Điện Biên là những lát cắt tiêu biểu: vừa có bước tiến rõ rệt về giảm nghèo, vừa cho thấy “độ mong manh” của thành quả khi sinh kế còn phụ thuộc nhiều vào nông nghiệp và điều kiện tự nhiên khắc nghiệt.
Vùng dân tộc thiểu số - nơi tỷ lệ nghèo và nguy cơ tái nghèo cao nhất
Trong cơ cấu nghèo của Việt Nam, vùng dân tộc thiểu số và miền núi luôn chiếm tỷ lệ cao. Tại 74 huyện nghèo trên cả nước, tỷ lệ nghèo đa chiều năm 2024 lên đến 39,82%, trong đó tỷ lệ hộ nghèo là 24,86%, hộ cận nghèo 14,95%, cao gấp nhiều lần so với mức bình quân. Phần lớn các huyện này nằm ở trung du, miền núi phía Bắc và Tây Nguyên, nơi đồng bào dân tộc thiểu số chiếm đa số.
Ở Sơn La, nhờ triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh đã giảm mạnh từ 21,66% năm 2021 xuống còn 10,89% cuối năm 2024, bình quân giảm 3,59% mỗi năm. Dự kiến đến hết năm 2025, tỷ lệ hộ nghèo còn khoảng 7,89%. Dù vậy, nếu đặt cạnh tỷ lệ hộ nghèo chung cả nước năm 2024 chỉ ở mức 1,93% thì có thể thấy khoảng cách giữa vùng núi và mặt bằng quốc gia vẫn còn rất lớn.
Tại Tuyên Quang, giai đoạn 2021 - 2024, tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo giảm từ 23,45% xuống còn 10,19%, bình quân mỗi năm giảm 4,42%, vượt xa mục tiêu 3%/năm. Đáng chú ý, tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số giảm từ 37,31% xuống còn 16,04%, tức là giảm hơn 21 điểm phần trăm chỉ trong ba năm.
Ở Điện Biên, một tỉnh miền núi, biên giới có hơn 82% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số, tỷ lệ hộ nghèo vẫn ở mức cao. Các báo cáo địa phương cho thấy đến cuối năm 2024, tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh giảm từ 25,6% xuống khoảng 21,29%, tỷ lệ nghèo đa chiều giảm từ 36,97% xuống 33,24%. Tỉnh đặt mục tiêu hết năm 2025 đưa tỷ lệ hộ nghèo xuống khoảng 18,9% - một mục tiêu rất thách thức nếu xét đến xuất phát điểm và điều kiện địa hình.
Nhìn vào các con số, có thể thấy xu hướng chung là tỷ lệ hộ nghèo giảm tương đối nhanh, nhưng mặt bằng nghèo vẫn cao, đặc biệt trong đồng bào dân tộc thiểu số. Cùng lúc, không ít địa phương thừa nhận: số hộ mới thoát nghèo còn “mỏng”, thu nhập chưa ổn định, nếu gặp thiên tai, dịch bệnh, biến động giá nông sản, nhiều hộ có nguy cơ rơi lại nhóm nghèo
Một số báo cáo của các cơ quan chuyên môn cũng chỉ ra rằng, hộ mới thoát nghèo đa số sống ở vùng sâu, vùng xa, “chỉ cần gặp thiên tai, dịch bệnh hay gia đình có người bệnh tật là lại tái nghèo”.
Miền núi, thiên tai và hạ tầng yếu - “vòng vây” khiến giảm nghèo khó bền vững. Nếu coi thu nhập là bề mặt dễ thấy của nghèo, thì phía sau là cả một cấu trúc của hạ tầng, dịch vụ xã hội, điều kiện tự nhiên. Vùng miền núi, nhất là trung du và miền núi phía Bắc, là nơi những yếu tố bất lợi này hội tụ nhiều nhất.
Theo các phân tích chính sách, vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa vẫn là nơi thiếu nhiều loại hạ tầng thiết yếu, đường giao thông, công trình thủy lợi nhỏ, trường lớp kiên cố, trạm y tế đạt chuẩn, công trình nước sạch, hạ tầng số. Thực tế cho thấy, thiên tai thường xuyên, hạ tầng yếu kém, thiếu vốn và cơ hội sinh kế, khó tiếp cận dịch vụ xã hội… là những yếu tố “làm chậm quá trình giảm nghèo và tăng nguy cơ tái nghèo” ở vùng miền núi.
Tại Tuyên Quang, chính quyền tỉnh cho biết đã ưu tiên hàng nghìn tỷ đồng cho hạ tầng và sinh kế vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Nhờ vậy, “những ngôi nhà khang trang mọc lên giữa núi rừng, những con đường bê tông nối liền thôn bản, những mô hình sinh kế mang lại thu nhập ổn định” đã thay dần diện mạo cũ. Nhưng bản thân tỉnh cũng thừa nhận, vẫn còn những xã, thôn chưa theo kịp tiến độ, một số chính sách còn chậm, cán bộ cơ sở còn thiếu kinh nghiệm, khiến việc triển khai giảm nghèo bền vững gặp không ít vướng mắc.
Với Điện Biên, điều kiện địa hình chia cắt, nhiều xã cách trung tâm huyện hàng chục km khiến việc đầu tư hạ tầng tốn kém và khó khăn. Các tài liệu nghiên cứu nhấn mạnh, đời sống của người dân “còn nhiều thiếu thốn, dẫn đến nguy cơ tái nghèo cao” nếu nguồn lực đầu tư không được duy trì ổn định và có trọng tâm.
Thiên tai - cú sốc lớn nhất đối với hộ nghèo miền núi
Lũ quét, sạt lở đất, rét đậm, mưa đá, hạn hán cục bộ… là những loại hình thiên tai diễn ra với tần suất dày hơn ở vùng núi. Biến đổi khí hậu khiến thời tiết cực đoan khó dự báo, trong khi sinh kế của người dân lại dựa nhiều vào cây trồng, vật nuôi truyền thống.
Chỉ một đợt mưa đá vào đúng mùa thu hoạch xoài, nhãn, mận ở Sơn La là đủ để nhiều hộ mất gần như toàn bộ thu nhập của cả năm. Ở Điện Biên, những đợt rét đậm kéo dài có thể khiến hàng loạt trâu bò chết rét, xóa sạch tài sản tích lũy của nhiều gia đình. Tại Gia Lai, một xã vùng sâu như Kon Pne từng ghi nhận năm 2022 có 17 hộ thoát nghèo thì số hộ tái nghèo lên tới 71, chiếm tỷ lệ rất lớn, cho thấy chỉ cần điều kiện bất lợi xuất hiện là thành quả giảm nghèo có thể đảo chiều nhanh chóng.
Những cú sốc thiên tai này không chỉ làm mất đi nguồn thu trước mắt, mà còn kéo theo nợ nần tăng lên do phải vay để tái sản xuất, trẻ em có nguy cơ bỏ học sớm, chi tiêu y tế, dinh dưỡng bị cắt giảm, người lao động buộc phải di cư tự phát để kiếm việc làm. Khi đó, tái nghèo không chỉ là rơi lại chuẩn thu nhập, mà còn là tái nghèo đa chiều về giáo dục, y tế, điều kiện sống.
Giữa những con số và báo cáo, tiếng nói của người dân vùng núi chính là thước đo chân thực nhất về mức độ bền vững của chính sách. Tại xã Minh Thanh (Tuyên Quang), chương trình giảm nghèo bền vững được triển khai gắn với xóa nhà tạm, mở đường, hỗ trợ sinh kế. Một thay đổi rất cụ thể được chính người dân cảm nhận. Ông Dương Văn Tuấn, Trưởng thôn Đồng Tậu, chia sẻ: “Chỉ vài năm trước, Đồng Tậu vẫn còn nhiều hộ nghèo, nhà tạm, đường đi lại khó khăn. Nay nhờ được đầu tư hạ tầng, hỗ trợ mô hình sinh kế, cả thôn không còn nhà dột nát, nhiều hộ đã thoát nghèo vươn lên khá giả”.
Câu nói ngắn gọn nhưng cho thấy rõ: tác động trực tiếp của hạ tầng đến điều kiện sống, vai trò của sinh kế mới trong việc giữ thành quả thoát nghèo và nhất là niềm tin của người dân khi chính sách “chạm” đúng nhu cầu.
Cũng tại Tuyên Quang, gia đình anh Dương Văn Bính ở thôn 2 Thuốc Thượng được hỗ trợ 50 triệu đồng từ Chương trình mục tiêu quốc gia để làm nhà. Anh vay thêm vốn, cộng với sự giúp đỡ ngày công của bà con, giờ đã có ngôi nhà kiên cố. Anh Bính nói: “Nhờ sự quan tâm của Nhà nước, giờ gia đình tôi có chỗ ở kiên cố, yên tâm làm ăn, phát triển kinh tế để thoát nghèo”.
Những câu chuyện như vậy cho thấy, thoát nghèo bền vững chỉ có thể đạt được khi người dân thực sự được đặt ở vị trí trung tâm của chính sách: không chỉ là đối tượng thụ hưởng, mà là chủ thể tham gia, cùng góp sức vào thay đổi của cộng đồng.
Tại Điện Biên, các mô hình như bí xanh ở Mường Chà, cà phê Arabica Mường Ảng, dứa mật Pu Lau… cho thấy một hướng đi khác: sinh kế không chỉ dựa vào cây truyền thống, mà gắn với sản phẩm có lợi thế so sánh và chuỗi giá trị. Báo cáo về mô hình bí xanh tại bản Púng Giắt cho biết, chỉ với 2,6 ha ban đầu cho 10 hộ tham gia từ nguồn vốn Chương trình mục tiêu quốc gia, nhờ được tập huấn kỹ thuật và kết nối tiêu thụ, mô hình đã mở rộng và mang lại thu nhập rõ rệt, giúp nhiều hộ có thêm “giỏ thu nhập” ổn định hơn.
Các mô hình ấy cũng cho thấy một nguyên tắc quan trọng để phòng chống tái nghèo: chọn cây - con phù hợp sinh thái; đi kèm hỗ trợ kỹ thuật, vật tư; có đầu ra tối thiểu qua doanh nghiệp, hợp tác xã; tổ chức sản xuất theo nhóm hộ, tổ hợp tác, hợp tác xã. Khi đó, cây trồng không chỉ là “cây xóa đói”, mà dần trở thành “cây làm giàu”, tạo lớp đệm an toàn hơn cho hộ nghèo và hộ mới thoát nghèo trước biến động thị trường.
Yêu cầu chính sách: giảm nghèo gắn với tăng sức chống chịu
Từ các câu chuyện thực tế ở Sơn La, Tuyên Quang, Điện Biên và những vùng tương tự, có thể rút ra một số yêu cầu lớn cho giai đoạn tới, thiết nghĩ:
Giảm nghèo phải đi đôi với tăng sức chống chịu. Không chỉ hỗ trợ để thoát nghèo, chính sách cần quan tâm nhóm hộ mới thoát nghèo, hộ cận nghèo ở vùng dân tộc thiểu số, miền núi, nhóm dễ bị tổn thương nhất khi gặp thiên tai, dịch bệnh. Nhiều kiến nghị đã đề xuất có cơ chế ưu đãi riêng cho nhóm này để tránh rơi lại nghèo.
Hạ tầng thiết yếu và dịch vụ xã hội phải được ưu tiên ở “vùng lõi nghèo”. Các số liệu cho thấy nơi nào đường sá, điện, nước, trường học, trạm y tế được đầu tư bài bản, nơi đó tỷ lệ nghèo giảm nhanh hơn và ít tái nghèo hơn. Việc ưu tiên nguồn lực cho các xã đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số là cách duy nhất để thu hẹp khoảng cách.
Sinh kế phải đa dạng hơn và thích ứng với biến đổi khí hậu. Dựa hoàn toàn vào một, hai loại cây trồng - vật nuôi dễ khiến hộ dân bị “đứt gãy” thu nhập khi giá rớt hoặc thiên tai xảy ra. Cơ cấu lại nông nghiệp, phát triển cây trồng phù hợp khí hậu mới, kết hợp ngành nghề phi nông nghiệp, du lịch cộng đồng, dịch vụ... là hướng đi được nhiều địa phương miền núi lựa chọn.
Đặt người dân ở trung tâm - từ “được hỗ trợ” sang “tự lực vươn lên”
Các mô hình thành công đều có một điểm chung là tận dụng được nội lực cộng đồng. Như cách mà một số hộ ở Tuyên Quang, Điện Biên đã làm - nhận hỗ trợ làm vốn khởi đầu, rồi tự mở rộng mô hình, chia sẻ kinh nghiệm cho hộ khác, dần hình thành mạng lưới tương trợ trong thôn bản. Ở góc nhìn đó, vùng dân tộc thiểu số, miền núi không chỉ là “điểm nóng” về nguy cơ tái nghèo, mà cũng là nơi tiềm ẩn nhiều mô hình, nhiều cách làm sáng tạo nếu được tiếp thêm đúng nguồn lực và chính sách.
Kỳ 3 của tuyến bài sẽ đi sâu hơn vào các giải pháp: từ tái cơ cấu sinh kế, phát triển nông nghiệp thích ứng biến đổi khí hậu, đến chuyển đổi số, liên kết vùng, nâng cao năng lực nội tại của cộng đồng... nhằm giữ vững thành quả giảm nghèo trong bối cảnh khí hậu và kinh tế mới đang thay đổi nhanh chóng. Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường mời bạn đọc đón đọc Kỳ 3: “Giải pháp giữ vững thành quả giảm nghèo trong bối cảnh biến đổi khí hậu và kinh tế mới”.