news
Liên kết “3 nhà” ngành thủy sản: Niềm tin mạnh hơn mọi bản hợp đồng

Liên kết “3 nhà” ngành thủy sản: Niềm tin mạnh hơn mọi bản hợp đồng

Thứ sáu, 1/5/2026, 06:59 (GMT+7)
logo Không dừng lại ở những bản hợp đồng ký kết trên giấy, liên kết giữa Nhà nước - Doanh nghiệp - Người dân trong ngành thủy sản đang chuyển mình hướng tới một hệ sinh thái vận hành bằng niềm tin, được minh bạch hóa bởi công nghệ và dẫn dắt bởi tư duy thị trường.

Tại Hội nghị Khoa học Công nghệ Thủy sản và Kiểm ngư toàn quốc năm 2026, các chuyên gia đã chỉ ra một thực tế: Dù mô hình liên kết “3 nhà” đã được triển khai nhiều năm, nhưng tình trạng sản xuất tự phát, thiếu định hướng dài hạn vẫn dẫn đến mất cân đối cung – cầu. TS. Trần Thị Thu Nga (Viện Thủy sản Việt Nam) nhận định, nhiều chuỗi giá trị hiện nay vẫn còn lỏng lẻo vì thiếu đi sợi dây gắn kết then chốt mang tên “niềm tin”.

Bài học từ mô hình nghêu Bến Tre

Dẫn chứng từ mô hình nghêu Bến Tre, TS. Trần Thị Thu Nga khẳng định thành công không đến từ các điều khoản khô trong hợp đồng hay các biện pháp kỹ thuật, mà phải bắt đầu từ niềm tin. Khi chưa có niềm tin, mọi thỏa thuận đều khó có thể duy trì lâu dài. Do đó, bước đi tiên quyết là phải củng cố tổ chức cộng đồng, trong đó các hợp tác xã đóng vai trò trung tâm để kết nối người dân tham gia vào chuỗi giá trị.

b_1777387319.jpeg
Mô hình nghêu Bến Tre là minh chứng cho sức mạnh của tổ chức cộng đồng trong việc chuẩn hóa quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn quốc tế. Ảnh minh hoạ

Để liên kết “3 nhà” thực sự trở thành động lực tăng trưởng, ngành thủy sản cần có sự thay đổi mạnh mẽ về tư duy. Cần chuyển từ tư duy sản xuất sang tư duy thị trường, nơi hoạt động sản xuất phải gắn liền với nhu cầu tiêu thụ và các tiêu chuẩn chất lượng khắt khe. Trong chuỗi giá trị này, vai trò của từng chủ thể cần được định vị rõ ràng. Nhà nước hoàn thiện thể chế, xây dựng chính sách hỗ trợ và giám sát; Doanh nghiệp giữ vai trò dẫn dắt thị trường và kết nối tiêu thụ; Người dân và hợp tác xã là lực lượng sản xuất trực tiếp, tuân thủ các quy chuẩn kỹ thuật.

Hướng tới nền công nghiệp sinh học và sản xuất hữu cơ

Đồng quan điểm, tuy nhiên, PGS, TS. Nguyễn Hữu Ninh, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học và Công nghệ nhấn mạnh, bên cạnh yếu tố con người, khoa học công nghệ (KHCN) đóng vai trò là công cụ để minh bạch hóa mọi mắt xích liên kết. Việc đẩy mạnh chuyển đổi số và số hóa dữ liệu truy xuất nguồn gốc giúp các bên kiểm soát chất lượng chặt chẽ hơn, từ đó củng cố niềm tin lẫn nhau.

c_1777387319.jpeg
Phát triển thủy sản hữu cơ là bước đi chiến lược để đáp ứng các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm khắt khe của thị trường toàn cầu. Ảnh minh hoạ

PGS, TS. Nguyễn Hữu Ninh cho biết, hiện nay 90% diện tích nuôi trồng thủy sản đã ứng dụng KHCN, góp phần duy trì tốc độ tăng trưởng 4-5%/năm, với những thành tựu nổi bật như: Chọn tạo thành công 12 giống mới và 27 tiến bộ kỹ thuật (tôm, cá, ngao Bến Tre, cá tầm Siberi...), giúp tăng trưởng nhanh và thích ứng tốt với biến đổi khí hậu; Các mô hình nuôi siêu thâm canh, nuôi tuần hoàn và sử dụng chế phẩm sinh học đã giúp giảm chi phí sản xuất và hạn chế tác động môi trường; Ứng dụng công nghệ trên tàu cá không chỉ tăng hiệu quả kinh tế mà còn thúc đẩy khai thác có trách nhiệm, giảm áp lực lên nguồn lợi tự nhiên.

Tầm nhìn tương lai của ngành thủy sản sẽ ưu tiên phát triển công nghiệp sinh học thế hệ mới. Mục tiêu trọng tâm là làm chủ công nghệ sản xuất vắc xin, kít thử và các chế phẩm sinh học để thay thế hóa chất và kháng sinh. Đây là bước đi chiến lược để đảm bảo tiêu chuẩn an toàn thực phẩm khắt khe của thế giới, hướng tới một nền sản xuất thủy sản hữu cơ, bền vững và có giá trị gia tăng cao.

Có thể nói, khi niềm tin được xây dựng vững chắc từ cộng đồng và được tiếp sức bởi những đột phá công nghệ, liên kết “3 nhà” sẽ không còn là hình thức mà trở thành động lực thực sự đưa thủy sản Việt Nam bứt phá trên trường quốc tế.

Tiểu Thuý