Ngành gia cầm đẩy mạnh công nghiệp hóa theo hướng xanh và bền vững

Ngành gia cầm đẩy mạnh công nghiệp hóa theo hướng xanh và bền vững

Thứ hai, 9/3/2026, 22:45 (GMT+7)
logo Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng tác động sâu rộng đến mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, yêu cầu phát triển nông nghiệp theo hướng xanh, tuần hoàn và phát thải thấp không còn là lựa chọn mà đã trở thành tất yếu. Ngành gia cầm, một trong những ngành kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao và đóng góp lớn cho an ninh thực phẩm cũng đang chuyển mình mạnh mẽ từ mô hình chăn nuôi truyền thống sang sản xuất xanh, hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng không (Net Zero) vào năm 2050 theo cam kết quốc gia.

Áp lực chuyển đổi từ thực tiễn

Những năm gần đây, tổng đàn gia cầm cả nước luôn duy trì ở mức cao, sản lượng thịt và trứng tăng trưởng ổn định, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và từng bước mở rộng xuất khẩu. Theo thống kê của Hiệp hội Gia cầm Việt Nam, năm 2025, tổng đàn gia cầm khoảng 585 triệu con, tổng số gia cầm giống mà Hiệp hội sản xuất được khoảng 530 - 550 triệu con (chiếm 65 -70% thị phần cả nước), trong đó giống lông màu khoảng 310 triệu con, gà giống lông trắng 120 triệu con; vịt giống 100 triệu con. Sản lượng thịt hơi các loại đạt khoảng 6 triệu tấn. Trong đó, thịt gia cầm đạt hơn 2 triệu tấn, sản lượng trứng đạt trên 20 tỷ quả, tăng 5,3%. Tuy nhiên, cùng với sự gia tăng quy mô sản xuất, vấn đề phát thải khí nhà kính, ô nhiễm môi trường từ chất thải chăn nuôi, mùi hôi, nước thải và sử dụng năng lượng trong chuỗi sản xuất ngày càng được quan tâm.

Ông Nguyễn Thanh Sơn, Chủ tịch Hiệp hội Gia cầm Việt Nam cho biết, dù gia cầm có mức phát thải thấp hơn nhiều so với các loại vật nuôi khác như lợn, trâu bò, song khi xét trên quy mô hàng trăm triệu con, lượng phát thải tích lũy không hề nhỏ. Ước tính ngành chăn nuôi gia cầm đóng góp khoảng 8% tổng lượng phát thải khí nhà kính từ lĩnh vực chăn nuôi toàn cầu. Các nguồn phát thải chính bao gồm quản lý phân và chất thải; phát thải gián tiếp từ sản xuất và vận chuyển thức ăn chăn nuôi (chiếm tỷ trọng lớn nhất, khoảng 45% trở lên trong tổng dấu chân carbon của ngành gia cầm nếu tính theo chuỗi cung ứng); tiêu thụ điện, nước và nhiên liệu trong vận hành trang trại, giết mổ, chế biến.

Để giảm phát thải khí nhà kính trong ngành gia cầm tại Việt Nam, theo ông Sơn, các giải pháp kỹ thuật và quản lý tập trung vào bốn trụ cột chính là: xử lý chất thải, tối ưu hóa dinh dưỡng, chuyển đổi năng lượng và xây dựng mô hình kinh tế tuần hoàn.

 Đổi mới công nghệ: chìa khóa giảm phát thải

Ông Sơn cho biết, dấu ấn lớn nhất chính là sự chuyển mình mạnh mẽ trong tư duy của các doanh nghiệp của Hiệp hội. Chúng ta không còn chỉ biết đến "con gà, quả trứng" theo cách sản xuất truyền thống. Năm 2024 - 2025 ghi dấu bước chân thần tốc của các doanh nghiệp thành viên vào kỷ nguyên đổi mới công nghệ, chuyển đổi số và chăn nuôi xanh. Những trang trại thông minh, những quy trình giảm phát thải và mô hình kinh tế tuần hoàn không còn là khẩu hiệu, mà đã trở thành hành động tại hàng trăm cơ sở hội viên. Các doanh nghiệp đã chọn con đường khó, con đường bền vững, để bảo vệ tương lai của ngành.

2_1773043587.jpg
Ngành gia cầm đang đẩy mạnh đổi mới công nghệ, chuyển đổi số và chăn nuôi xanh 

Cũng theo ông Sơn, nhờ tối ưu điều kiện nuôi, gia cầm sinh trưởng tốt hơn, giảm tỷ lệ hao hụt, rút ngắn thời gian nuôi, từ đó giảm lượng thức ăn tiêu thụ và giảm phát thải trên mỗi đơn vị sản phẩm. Các doanh nghiệp đầu ngành (như C.P. Việt Nam, De Heus, Cty CP chăn nuôi Tafa Việt) đang tiên phong áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế để chuẩn hóa chuỗi giá trị. Đây là những doanh nghiệp đang nỗ lực số hóa quản lý, sử dụng nền tảng thông minh (như SAP Net Zero) để đo lường và theo dõi lượng phát thải thực tế trên toàn chuỗi cung ứng; Áp dụng hệ thống quản lý ISO 22000, Global GAP và các tiêu chuẩn truy xuất nguồn gốc để đáp ứng yêu cầu khắt khe của thị trường xuất khẩu.

Trong chăn nuôi, thức ăn chiếm từ 60 - 70% chi phí sản xuất và là nguồn phát thải gián tiếp lớn trong chuỗi giá trị. Vì vậy, việc tối ưu khẩu phần dinh dưỡng, sử dụng enzyme, phụ gia sinh học, thay thế kháng sinh bằng chế phẩm vi sinh không chỉ giúp nâng cao hiệu quả chăn nuôi mà còn góp phần giảm phát thải. Khi FCR được cải thiện, lượng thức ăn cần thiết để sản xuất một kg thịt hoặc một quả trứng đã giảm xuống, đồng nghĩa với giảm phát thải gián tiếp từ khâu sản xuất nguyên liệu thức ăn. Theo nghiên cứu, chỉ cần giảm 1% protein thô trong khẩu phần có thể giảm tới 102 kg khí thải/tấn thịt gia cầm.

1_1773043592.jpg
Nhiều mô hình chăn nuôi công nghệ cao, khép kín nhằm giảm phát thải đã được triển khai mạnh mẽ ở một số địa phương như Đồng Nai, Tây Ninh, Bắc Ninh...

Nhiều doanh nghiệp như Tập đoàn C.P. tập đoàn De Heus, Tập đoàn Dabaco… đã tăng cường nghiên cứu sử dụng nguyên liệu trong nước, tận dụng phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn, qua đó giảm chi phí vận chuyển đường dài và giảm lượng khí thải liên quan đến logistics. Phát triển vùng nguyên liệu nội địa cũng giúp tăng tính chủ động và bền vững cho toàn ngành. Song song với đó, việc kiểm soát chặt chẽ sử dụng kháng sinh và hóa chất không chỉ đáp ứng yêu cầu an toàn thực phẩm mà còn góp phần bảo vệ hệ sinh thái đất, nước và sức khỏe cộng đồng.

Phát triển kinh tế tuần hoàn trong ngành gia cầm

Giảm phát thải không chỉ là cắt giảm khí nhà kính, mà còn là xây dựng mô hình kinh tế tuần hoàn, trong đó chất thải của khâu này trở thành đầu vào của khâu khác.

Ông Nguyễn Thanh Sơn cho biết, thay vì coi chất thải là gánh nặng, sản xuất xanh biến chúng thành tài nguyên: Phân gia cầm được thu gom sản xuất phân hữu cơ, tạo thành chu trình khép kín. Một số mô hình đã triển khai hệ thống tách phân – nước, xử lý nước thải tuần hoàn, giảm thiểu xả thải ra môi trường. Đồng thời, một số doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi đã thay thế một phần nguyên liệu nhập khẩu (như đậu nành) bằng các phụ phẩm nông nghiệp địa phương để giảm "dấu chân carbon" từ khâu vận chuyển.

3_1773043595.jpg
Phát triển kinh tế tuần hoàn trong ngành gia cầm để hướng đến hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng không (Net Zero) vào năm 2050 theo cam kết quốc gia

Hiện đại hóa cơ sở hạ tầng giúp tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ phúc lợi động vật cũng là xu hướng mà một số doanh nghiệp đang áp dụng: Lắp đặt điện mặt trời mái nhà trên các hệ thống chuồng kín để tự túc năng lượng sưởi ấm và làm mát. Chuyển đổi sang các mô hình chăn nuôi nhân đạo (như nuôi gà thả vườn, không dùng chuồng lồng), vừa giúp gia cầm khỏe mạnh vừa giảm áp lực lên môi trường. Thay thế thiết bị chuồng trại bằng nhựa tái chế hoặc vật liệu có độ bền cao để giảm rác thải nhựa trong chăn nuôi

 Cần rà soát và bổ sung chính sách

Có một thực tế hiện nay, đó là, dù đã có nhiều nỗ lực, quá trình chuyển đổi sang mô hình phát thải thấp đối với các thành viên của Hiệp hội vẫn đối mặt không ít khó khăn. Trong đó có việc đầu tư đổi mới công nghệ hiện đại theo hướng xanh và bền vững đòi hỏi chi phí nguồn lực lớn, trong khi giá sản phẩm đầu ra không có sự chệnh lệch lớn so với công nghệ sản xuất cũ.

Do đó, theo ông Sơn cần có cơ chế hỗ trợ tín dụng xanh, ưu đãi thuế cho doanh nghiệp đầu tư công nghệ giảm phát thải; Hỗ trợ kỹ thuật và đo lường, hướng dẫn kỹ thuật đo đạc, báo cáo và thẩm định. Việc xây dựng hệ thống đo lường, báo cáo và thẩm định phát thải trong ngành chăn nuôi cũng là yêu cầu cấp thiết để bảo đảm minh bạch và hội nhập quốc tế. Các cơ sở chăn nuôi quy mô lớn được khuyến khích thực hiện kiểm kê định kỳ khí nhà kính để theo dõi và áp dụng các biện pháp cắt giảm mục tiêu. Hỗ trợ cấp chứng nhận sản phẩm xanh, VietGAHP và các tiêu chuẩn xuất khẩu để gia tăng giá trị sản phẩm. Ngoài ra, cần đẩy mạnh truyền thông để người tiêu dùng hiểu và ủng hộ sản phẩm gia cầm “xanh”, tạo động lực thị trường cho doanh nghiệp chuyển đổi.

Tới đây, Hiệp hội Gia cầm Việt Nam sẽ phối hợp với các bộ ngành để xây dựng cơ sở dữ liệu số hóa về phát thải và phổ cập nhãn hiệu "Sản phẩm phát thải thấp" cho thịt và trứng gia cầm; thúc đẩy truy xuất nguồn gốc và từng bước hướng tới kiểm kê phát thải trong ngành. Đây là nền tảng để doanh nghiệp tham gia thị trường tín chỉ carbon trong tương lai, ông Sơn nhấn mạnh.

Ngành gia cầm Việt Nam muốn vươn xa phải đầu tư đồng bộ từ chuỗi sản xuất xanh đến xây dựng thương hiệu. Cụ thể: Chăn nuôi sạch, công nghệ cao: Ứng dụng IoT, AI, tự động hóa để quản lý sản xuất, tối ưu năng suất, và truy xuất sản phẩm; Đóng gói và bảo quản tiêu chuẩn quốc tế: Đầu tư nhà máy đạt chuẩn HACCP, ISO, HALAL... để “trứng, thịt gia cầm Việt Nam có hộ chiếu toàn cầu; Mô hình ESG và tuần hoàn xanh: “Feed – Farm – Food – Fertilizer – Future, đó là: Thức ăn chăn nuôi - Trang trại - Thực phẩm - Phân bón  để hướng tới Tương lai xanh” giảm phát thải, tái tạo tài nguyên, tạo hình ảnh trứng thịt gia cầm Việt sạch và an toàn.

“Với sự đồng hành của Hiệp hội Gia cầm Việt Nam, sự chủ động của doanh nghiệp và sự hỗ trợ từ Nhà nước, ngành chăn nuôi gia cầm hoàn toàn có thể chuyển mình mạnh mẽ theo hướng hiện đại, xanh và bền vững. Hành trình này đòi hỏi quyết tâm lâu dài, đầu tư bài bản và thay đổi tư duy từ “tăng sản lượng” sang “tăng giá trị”. Khi mỗi trang trại, mỗi doanh nghiệp cùng chung tay giảm phát thải, ngành gia cầm Việt Nam sẽ không chỉ bảo đảm an ninh thực phẩm mà còn góp phần tích cực vào mục tiêu phát triển kinh tế xanh và cam kết khí hậu quốc gia trong những thập niên tới”, ông Sơn khẳng định.

Tam Hưng