Ngành Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Ninh Bình đang tập trung triển khai nhiều giải pháp trọng tâm nhằm bảo đảm sản xuất vụ mùa 2026 và vụ đông 2026-2027 đạt hiệu quả cao. Cùng với việc cơ cấu lại mùa vụ, mở rộng liên kết sản xuất, nhiều mô hình lúa hữu cơ, giống mới cho thấy triển vọng tích cực, góp phần nâng cao giá trị nông sản và thu nhập cho người dân.
Chủ động kế hoạch sản xuất, thích ứng với diễn biến thời tiết
Trước những tác động ngày càng rõ nét của biến đổi khí hậu, thời tiết cực đoan và yêu cầu nâng cao chất lượng nông sản, ngành Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Ninh Bình đang chủ động xây dựng các phương án sản xuất vụ mùa 2026 và vụ đông 2026-2027 theo hướng linh hoạt, hiệu quả và bền vững.
Tại hội nghị triển khai kế hoạch sản xuất vụ mùa 2026, vụ đông 2026-2027 do Sở Nông nghiệp và Môi trường Ninh Bình tổ chức mới đây, các đại biểu đã tập trung thảo luận nhiều giải pháp nhằm bảo đảm thắng lợi toàn diện cả về năng suất, chất lượng và giá trị sản phẩm.
Theo kế hoạch, vụ mùa 2026 toàn tỉnh Ninh Bình phấn đấu gieo cấy 124.500 ha lúa với cơ cấu trà mùa hợp lý, gồm trà mùa sớm chiếm khoảng 30-40% diện tích, trà mùa trung từ 50-60% và trà mùa muộn khoảng 10%. Cơ cấu giống tiếp tục được điều chỉnh theo hướng nâng cao chất lượng, trong đó lúa thuần chiếm khoảng 80% diện tích, lúa lai 10% và lúa đặc sản 10%.
Ngành nông nghiệp đặt mục tiêu năng suất lúa mùa đạt bình quân 53,5 tạ/ha, sản lượng trên 677 nghìn tấn; tỷ lệ lúa chất lượng cao chiếm trên 70% tổng sản lượng. Đáng chú ý, mỗi xã sẽ quy hoạch ít nhất một vùng sản xuất lúa hàng hóa tập trung có quy mô từ 30 ha trở lên nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho cơ giới hóa và liên kết tiêu thụ sản phẩm.
Song song với sản xuất lúa mùa, diện tích cây màu hè - thu năm 2026 dự kiến đạt 17.600 ha, tập trung vào các loại cây trồng chủ lực như ngô, lạc, dưa, cà chua và rau ăn lá. Đối với vụ đông 2026-2027, toàn tỉnh phấn đấu gieo trồng trên 22.500 ha cây vụ đông, ưu tiên các cây trồng có giá trị kinh tế cao như khoai tây, bí xanh, cà chua, dưa chuột, khoai lang và ngô.
Theo lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Ninh Bình, để đạt mục tiêu đề ra, các địa phương cần bám sát lịch thời vụ, chủ động điều tiết nước tưới tiêu, đặc biệt với các diện tích canh tác tiết kiệm nước; tăng cường theo dõi sâu bệnh, dịch hại và chủ động ứng phó với diễn biến bất thuận của thời tiết.
Cơ quan chuyên môn cũng khuyến cáo các địa phương đẩy mạnh cơ giới hóa trong sản xuất, nhất là sử dụng máy cấy, mạ khay và ứng dụng máy bay không người lái trong phun thuốc bảo vệ thực vật nhằm giảm chi phí lao động, nâng cao hiệu quả sản xuất và bảo vệ môi trường.
Hiệu quả từ mô hình sản xuất lúa hữu cơ và “máy cấy, mạ khay”
Cùng với việc xây dựng kế hoạch sản xuất quy mô lớn, nhiều mô hình sản xuất lúa theo hướng hữu cơ đang cho thấy hiệu quả tích cực, mở ra hướng đi mới trong phát triển nông nghiệp bền vững.
Tại xứ đồng Đồng Ngoài, Hợp tác xã Yên Hòa, Hội Nông dân xã Yên Mô đã tổ chức hội nghị đầu bờ đánh giá hiệu quả mô hình sản xuất lúa theo hướng hữu cơ vụ xuân 2026. Tham gia hội nghị có đại diện Hội Nông dân tỉnh, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật cùng đông đảo nông dân trên địa bàn. Mô hình được triển khai trên diện tích 4.320 m² tại thôn Trinh Nữ, áp dụng phương thức “máy cấy, mạ khay” với giống lúa Ngọc Nương 9 do Công ty Giống cây trồng Trung ương cung ứng.
Theo đánh giá của các đại biểu, sau cấy cây lúa bén rễ nhanh, sinh trưởng khỏe, ruộng ít cỏ dại và hầu như không xuất hiện lúa cỏ. Nhờ áp dụng quy trình bón phân hợp lý và chăm sóc đúng kỹ thuật, cây lúa phát triển đồng đều, thân cứng, chống chịu tốt với thời tiết bất lợi.
Đặc biệt, trong đợt giông lốc cuối tháng 4, diện tích mô hình vẫn giữ được khả năng đứng cây tốt trong khi nhiều ruộng đối chứng bị đổ rạp. Đây được xem là một trong những ưu điểm nổi bật của phương thức canh tác hữu cơ kết hợp cơ giới hóa đồng bộ.
Kết quả khảo sát thực tế cho thấy, mô hình cho năng suất ước đạt khoảng 272,6 kg/sào. Với giá lúa thương phẩm hiện nay khoảng 10.000 đồng/kg, giá trị sản xuất đạt trên 75 triệu đồng/ha, lợi nhuận thu được khoảng 38,6 triệu đồng/ha/vụ sau khi trừ chi phí.
Không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế, mô hình còn giúp giảm đáng kể lượng thuốc diệt cỏ và thuốc bảo vệ thực vật sử dụng trên đồng ruộng, góp phần hạn chế ô nhiễm môi trường và cải thiện chất lượng đất canh tác. Theo Hội Nông dân xã Yên Mô, thời gian tới địa phương sẽ tiếp tục tuyên truyền, vận động hội viên chuyển đổi từ phương thức gieo vãi sang “máy cấy, mạ khay”, đồng thời nhân rộng mô hình sản xuất lúa hữu cơ nhằm tạo ra các sản phẩm nông nghiệp sạch, đáp ứng nhu cầu thị trường.
Triển vọng từ các giống lúa mới chất lượng cao
Bên cạnh phát triển nông nghiệp hữu cơ, việc khảo nghiệm và đưa các giống lúa mới vào sản xuất cũng đang được ngành nông nghiệp quan tâm nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu.
Mới đây, UBND xã Lý Nhân phối hợp với Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật cùng Công ty TNHH Mahyco Việt Nam tổ chức hội nghị đánh giá mô hình trình diễn giống lúa mới vụ xuân 2026 tại Hợp tác xã Nông nghiệp Hùng Lý. Mô hình được thực hiện trên diện tích 3,3 ha với các giống gồm lúa lai hai dòng MHC2, lúa lai ba dòng WN305 và lúa thuần Smart 56.
Qua đánh giá thực tế, các giống lúa đều thể hiện khả năng sinh trưởng phát triển tốt, đẻ nhánh khỏe, cây cứng, bộ lá gọn và có khả năng chống đổ khá tốt. Trong điều kiện thời tiết diễn biến phức tạp của vụ xuân năm nay, các giống lúa mới vẫn duy trì khả năng chống chịu sâu bệnh hiệu quả, hạn chế ảnh hưởng bất lợi đến năng suất. Kết quả năng suất cho thấy giống MHC2 và WN305 đạt từ gần 72 đến 72,5 tạ/ha/vụ, cao hơn giống đối chứng khoảng 5 tạ/ha. Giống lúa thuần Smart 56 đạt hơn 68 tạ/ha, cao hơn giống đối chứng hơn 1 tạ/ha.
Theo đại diện Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, kết quả bước đầu cho thấy các giống lúa mới có tiềm năng bổ sung vào cơ cấu giống sản xuất đại trà trong tỉnh, góp phần thay thế những giống cũ năng suất thấp, chất lượng chưa cao. Trong thời gian tới, sẽ tiếp tục mở rộng mô hình khảo nghiệm tại nhiều địa phương nhằm đánh giá toàn diện khả năng thích ứng, chống chịu sâu bệnh và hiệu quả kinh tế trước khi đưa vào sản xuất đại trà.
Việc đồng thời triển khai các giải pháp về cơ cấu mùa vụ, phát triển sản xuất hữu cơ, đẩy mạnh cơ giới hóa và đưa giống mới vào sản xuất đang tạo nền tảng quan trọng để ngành nông nghiệp nâng cao hiệu quả sản xuất, thích ứng với biến đổi khí hậu và hướng tới nền nông nghiệp xanh, bền vững.
Trong bối cảnh yêu cầu về chất lượng nông sản ngày càng cao, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm tiếp tục được xác định là giải pháp trọng tâm. Sự tham gia đồng hành của doanh nghiệp trong cung ứng giống, vật tư nông nghiệp và bao tiêu sản phẩm sẽ góp phần giúp người dân yên tâm sản xuất, nâng cao giá trị gia tăng và thu nhập trên cùng đơn vị diện tích canh tác.