Ninh Bình triển khai mô hình canh tác lúa hiệu quả cao, phát thải thấp và cơ giới hóa đồng bộ trên diện tích 2,5 ha trong vụ Đông Xuân 2026. Mô hình được kỳ vọng giảm chi phí, tiết kiệm lao động, thích ứng biến đổi khí hậu và tạo nền tảng nhân rộng sản xuất lúa bền vững.
Sáng 24/2, tại cánh đồng Hợp tác xã (HTX) Nam Cường, xã Yên Cường, tỉnh Ninh Bình, Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) phối hợp với Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế (IRRI) và Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh tổ chức lễ khởi động mô hình canh tác lúa hiệu quả cao, phát thải thấp. Đây là mô hình thứ hai được triển khai tại khu vực Đồng bằng sông Hồng trong vụ Đông Xuân 2026, sau Hưng Yên và Hải Phòng.
Chương trình nằm trong khuôn khổ Đề án “Sản xuất giảm phát thải lĩnh vực trồng trọt giai đoạn 2025–2035, tầm nhìn đến năm 2050” và Dự án “Sử dụng phân bón đúng” (Fertilize Right) do Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA) tài trợ. Kết quả từ các mô hình thí điểm sẽ là cơ sở thực tiễn quan trọng để Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng các địa phương đánh giá, hoàn thiện quy trình, tiến tới nhân rộng phương thức sản xuất lúa theo hướng tăng trưởng xanh.
Phát biểu tại sự kiện, ông Nguyễn Sinh Tiến, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Ninh Bình cho biết, địa phương hiện có diện tích trồng lúa khoảng 135.000 ha, lớn nhất khu vực Đồng bằng sông Hồng. Đây là lợi thế quan trọng để Ninh Bình phát triển nông nghiệp hàng hóa quy mô lớn, từng bước xây dựng và nâng cao thương hiệu lúa gạo địa phương.
Tuy nhiên, ngành nông nghiệp tỉnh cũng đang đối diện “thử thách kép”: vừa phải thích ứng với biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp, vừa đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường về nông sản sạch, minh bạch nguồn gốc và thân thiện môi trường. Trong bối cảnh đó, việc triển khai mô hình canh tác lúa hiệu quả cao, phát thải thấp không chỉ đơn thuần là ứng dụng máy móc, mà còn là bước chuyển đổi tư duy sản xuất.
Theo ông Tiến, cơ giới hóa đồng bộ từ khâu làm đất, gieo sạ, bón phân đến thu hoạch sẽ giúp giảm chi phí đầu vào, hạn chế thất thoát sau thu hoạch và giải quyết tình trạng thiếu hụt lao động nông thôn. Ứng dụng công nghệ cũng góp phần thay đổi vai trò người nông dân, từ sản xuất thủ công sang vận hành quy trình chuyên nghiệp, từng bước trở thành những “công nhân nông nghiệp” có kỹ năng và kiến thức.
Mô hình tại HTX Nam Cường được triển khai trên diện tích 2,5 ha, sử dụng giống lúa Thiên Ưu 8 với lượng gieo sạ khoảng 45 kg/ha. Đại diện đơn vị cung cấp giống, ông Dương Quang Sáu, Phó Tổng Giám đốc CTCP Tập đoàn Giống cây trồng Việt Nam (Vinaseed), cho biết Thiên Ưu 8 là giống lúa có khả năng chống chịu tốt, không đòi hỏi mức thâm canh quá cao nhưng vẫn bảo đảm năng suất ổn định.
Trong điều kiện thời tiết miền Bắc thường diễn biến bất lợi, đặc biệt ở vụ mùa, giống lúa này có ưu thế về khả năng chống đổ, giúp giảm rủi ro cho người sản xuất. Năng suất trung bình đạt 7–7,5 tấn/ha, nếu thâm canh tốt có thể đạt 8–8,5 tấn/ha. Bên cạnh đó, giống dễ chăm sóc, chất lượng gạo đáp ứng nhu cầu thị trường, phù hợp định hướng phát triển nông nghiệp xanh.
Ở góc độ quản lý, ông Nguyễn Quốc Mạnh, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, nhấn mạnh mô hình áp dụng đồng bộ nhiều giải pháp kỹ thuật tiên tiến. Trong đó có cơ giới hóa gieo sạ hàng kết hợp vùi phân, bón phân theo nguyên tắc “4 đúng” (đúng loại, đúng liều lượng, đúng thời điểm, đúng cách) và quản lý nước theo phương pháp tưới ướt – khô xen kẽ.
Các biện pháp này không chỉ giúp giảm phát thải khí nhà kính, đặc biệt là khí methane trong canh tác lúa nước, mà còn nâng cao hiệu quả sử dụng giống, phân bón và nước tưới. Đáng chú ý, việc gieo sạ hàng thay cho cấy truyền thống giúp tiết kiệm đáng kể công lao động ở khâu cấy và dặm mạ.
Thực tế tại HTX Nam Cường cho thấy hiệu quả kinh tế là yếu tố then chốt thúc đẩy chuyển đổi. Ông Nguyễn Văn Dự, Chủ tịch HĐQT HTX, cho biết chi phí nhân công ngày càng tăng, trong khi lao động nông thôn khan hiếm do nhiều người chuyển sang làm việc tại các khu công nghiệp.
“Nếu như trước đây, thuê máy cấy và hai công lao động trên một sào tốn khoảng 800.000 đồng/ngày, thì nay áp dụng công nghệ mới chỉ còn khoảng 200.000–300.000 đồng/ngày”, ông Dự chia sẻ. Việc rút ngắn thời gian sản xuất, giảm chi phí và chủ động hơn về nhân lực giúp nông dân nâng cao lợi nhuận, đồng thời giảm áp lực trong mùa vụ cao điểm.
Với sự tham gia của cơ quan quản lý, tổ chức nghiên cứu quốc tế và doanh nghiệp giống, mô hình tại Ninh Bình được kỳ vọng không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế trước mắt mà còn tạo tiền đề chuyển đổi phương thức sản xuất lúa theo hướng bền vững, thích ứng biến đổi khí hậu. Nếu được tổng kết và hoàn thiện quy trình, đây sẽ là cơ sở quan trọng để nhân rộng trên toàn vùng Đồng bằng sông Hồng trong thời gian tới.