news
PGS, TS. Nguyễn Chu Hồi: “Hoàn thiện thể chế để biển đảo thực sự trở thành không gian phát triển bền vững”

PGS, TS. Nguyễn Chu Hồi: “Hoàn thiện thể chế để biển đảo thực sự trở thành không gian phát triển bền vững”

Thứ tư, 3/6/2026, 07:04 (GMT+7)
logo Sau gần 10 năm thực thi, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo đã tạo nền tảng ban đầu quan trọng cho quản lý tổng hợp tài nguyên biển và phát triển kinh tế biển ở Việt Nam. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển kinh tế biển xanh, thích ứng biến đổi khí hậu và bảo tồn hệ sinh thái biển, nhiều nội dung được cho là cần tiếp tục rà soát, hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nhân dịp Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam, PGS, TS. Nguyễn Chu Hồi - Phó Chủ tịch Thường trực - phụ trách Hội Thủy sản Việt Nam đã chia sẻ với phóng viên về những định hướng, kiến nghị trong quá trình sửa đổi Luật này thời gian tới.

 

chu-hoi_1780274684.jpg
PGS, TS. Nguyễn Chu Hồi

“Luật đã tạo nền tảng cho tư duy quản trị biển tổng hợp”

PV: Sau 10 năm thực thi, theo ông, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo đã tạo nền tảng như thế nào cho quản lý tổng hợp tài nguyên biển và phát triển kinh tế biển ở Việt Nam?

PGS, TS. Nguyễn Chu Hồi:

Có thể nói, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo là một bước tiến quan trọng trong tư duy quản trị biển của Việt Nam. Trước đây, biển đảo chủ yếu được quản lý theo ngành, lĩnh vực riêng lẻ, nhưng Luật này đã đặt nền móng cho cách tiếp cận quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển theo hướng liên ngành, liên vùng và dựa vào hệ sinh thái. Luật này cũng bước đầu tạo cơ sở pháp lý cho quản lý tổng hợp vùng bờ, điều tra cơ bản tài nguyên - môi trường biển, giao khu vực biển và từng bước áp dụng tiếp cận quản lý biển theo không gian thông qua hình thành quy hoạch không gian biển quốc gia.

Tuy nhiên, điểm quan trọng hơn cả là Luật này đã góp phần thay đổi nhận thức của phần lớn các nhà hoạch định chính sách, doanh nghiệp và người dân về phát triển kinh tế biển bền vững. Về cơ bản, chúng ta không còn nhìn biển dưới góc độ khai thác tài nguyên một chiều, mà bắt đầu chuyển sang tư duy phát triển xanh, tái tạo biển, gắn khai thác với bảo tồn và phục hồi các hệ sinh thái biển, đảo và vùng ven biển. Điều này rất phù hợp với tinh thần của Nghị quyết 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển, trong đó đã xác định phát triển bền vững kinh tế biển phải dựa trên tăng trưởng xanh, phát huy giá trị văn hoá biển đặc trưng Việt Nam, bảo tồn đa dạng sinh học và hệ sinh thái biển.

“Kinh tế biển xanh đòi hỏi một khung pháp lý hiện đại hơn”

PV: Trong bối cảnh phát triển kinh tế biển xanh, thích ứng biến đổi khí hậu và bảo vệ hệ sinh thái biển, theo ông Luật này cần được cập nhật, bổ sung những nội dung trọng tâm nào trong thời gian tới?

PGS, TS. Nguyễn Chu Hồi:

Cân nhắc các tác động thực tế của quá trình gần 10 năm thực thi Luật đã cho thấy bối cảnh hiện nay đã đổi khác rất nhiều so với thời điểm Luật này được ban hành. Đất nước ta đang đứng trước những yêu cầu mới, như: giảm phát thải carbon, phát triển kinh tế tuần hoàn, chuyển đổi năng lượng, phục hồi hệ sinh thái biển và thích ứng với biến đổi khí hậu, biến đổi đại dương (Ocaen change).

Trong khi đó, một số ngành/nghề kinh tế biển mới đang phát triển nhanh, mạnh như: điện gió biển ngoài khơi, nuôi thuỷ sản trên biển (nuôi biển) công nghệ cao, dược liệu biển, nghề cá giải trí, logistics biển và du lịch biển chất lượng cao. Điều này đòi hỏi khung pháp lý phải được cập nhật theo hướng hiện đại, tích hợp và thích ứng linh hoạt.

Theo tôi, Luật thời gian tới cần bổ sung, quy định rõ hơn các nội dung liên quan đến kinh tế biển xanh; tiếp cận quản lý/quản trị tổng hợp biển theo không gian dựa vào hệ sinh thái; phục hồi hệ sinh thái biển - ven biển, đảo; xử lý những chồng chéo về quản lý tổng hợp vùng bờ với quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường vùng bờ, thậm chí cả với quy hoạch không gian biển ở vùng bờ. Đồng thời, tiếp tục tạo thuận lợi về cơ chế, chính sách với độ mở thích hợp để khuyến khích phát triển thực chất các ngành/nghề kinh tế biển mới như nói trên.

Thúc đẩy mạnh hơn việc xây dựng, liên thông và quản lý hiệu quả cơ sở dữ liệu biển đồng bộ gắn với số hóa và ứng dụng AI trong điều tra, nghiên cứu, khai thác và sử dụng biển, đảo. Đây cũng là nền tảng rất quan trọng phục vụ công tác quy hoạch, giám sát và ra quyết định trong quản lý biển đảo nói chung, quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường biển nói riêng.

“Quy hoạch không gian biển phải giải quyết được xung đột phát triển”

PV: Theo ông, quy hoạch không gian biển cần được hoàn thiện ra sao để hài hòa giữa phát triển du lịch biển, bảo tồn biển, nuôi biển và các ngành kinh tế biển mới?

PGS, TS. Nguyễn Chu Hồi:

Không gian biển có cấu trúc ba chiều, là hệ thống tự nhiên động, đa dụng (Multi-use), hữu hạn, trong khi ngành nào, cấp nào cũng có nhu cầu mở rộng không gian biển cho khai thác, sử dụng riêng. Điều này dẫn đến gia tăng các mâu thuẫn lợi ích, các xung đột trong sử dụng không gian ở cùng khu vực biển. Nếu không có quy hoạch tích hợp với tầm nhìn dài hạn, bao trùm thì các mâu thuẫn, xung đột giữa các ngành kinh tế biển, giữa các cấp quản lý biển, đảo và vùng ven biển sẽ rất dễ xảy ra, nhất là khi nước ta chuyển sang mô hình chính quyền địa phương hai cấp với phân cấp quản lý mạnh xuống cơ sở. Do vậy, xử lý các mâu thuẫn lợi ích, xung đột trong khai thác/sử dụng không gian biển chính là mục đích trước hết và trên hết của “Quy hoạch không gian biển”.

Một khu vực biển, ở mức độ khác nhau, đều đồng thời có các giá trị về bảo tồn (Conservation value), như: đa dạng sinh học, bãi giống, bãi đẻ, sinh cảnh tự nhiên của loài (habitat), di sản biển,…và các lợi thế phát triển (Development potential), như: tiềm năng du lịch biển, nuôi biển, năng lượng biển tái tạo, điện gió biển,... Vì vậy, quy hoạch không gian biển phải tiếp cận theo hướng đa mục tiêu, dựa trên sức chịu tải của hệ sinh thái biển và giảm thiểu mâu thuẫn, xung đột như nói trên, đặc biệt ở vùng bờ biển.

Đối với du lịch biển, tôi cho rằng cần chuyển mạnh sang mô hình chất lượng cao,  thân thiện môi trường, dựa vào các giá trị sinh thái biển và gắn với văn hoá biển. Nếu hệ sinh thái biển bị suy thoái thì chính ngành du lịch sẽ chịu tác động đầu tiên. Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030 vận hành hiệu quả 27 khu bảo tồn biển và nâng diện tích các khu bảo tồn biển, ven biển đạt khoảng 6% diện tích tự nhiên vùng biển quốc gia. Tuy nhiên, để đạt mục tiêu này cần có sự phối hợp đồng bộ giữa quy hoạch, bảo tồn và phát triển sinh kế bền vững cho cộng đồng ven biển. Đặc biệt phải xem lại thủ tục thiết lập một khu bảo tồn biển (hiện nay quá phức tạp, tạo độ trễ) và chú trọng tính đại diện của nó để nếu quản lý hiệu quả thì tạo ra được cân bằng sinh thái ra cho vùng biển rộng lớn ngoài phạm vi khu bảo tồn.

“Cần cơ chế để doanh nghiệp và cộng đồng cùng tham gia bảo tồn biển”

PV: Một trong những vấn đề được quan tâm hiện nay là huy động nguồn lực cho bảo tồn và phục hồi hệ sinh thái biển. Theo ông, cần bổ sung những cơ chế, chính sách nào để khuyến khích doanh nghiệp và cộng đồng cùng tham gia?

PGS, TS. Nguyễn Chu Hồi:

Nguồn lực nhà nước (nhân lực và tài lực) dành cho bảo tồn biển, chắc chắn, sẽ không thể đáp ứng đầy đủ yêu cầu thực tiễn. Vì vậy, cần thúc đẩy mạnh hơn cơ chế xã hội hóa và huy động sự tham gia của doanh nghiệp, cộng đồng. Chừng nào hai lực lượng này đứng ngoài cuộc thì công tác bảo tồn và quản lý một khu bảo tồn biển cụ thể sẽ không có hiệu quả trong dài hạn.

Theo tôi, cần nghiên cứu xây dựng các cơ chế tài chính mới, như: Quỹ phục hồi hệ sinh thái biển, chi trả dịch vụ hệ sinh thái biển hoặc tín chỉ carbon xanh. Đối với doanh nghiệp du lịch biển hay doanh nghiệp khai thác biển/tài nguyên biển - là những người sử dụng biển, cần có cơ chế khuyến khích họ đầu tư trở lại cho bảo tồn (theo cơ chế hợp tác công-tư) và phục hồi hệ sinh thái biển theo nguyên tắc cùng hưởng lợi và cùng có trách nhiệm.

Bên cạnh đó, vai trò của cộng đồng ven biển là rất quan trọng. Người dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà cần trở thành chủ thể tham gia quản trị tài nguyên biển, giám sát môi trường biển và bảo tồn biển. Hiện nay, Việt Nam cũng đặt mục tiêu đến năm 2025 có 80% và đến năm 2030 tất cả khu bảo tồn biển không còn rác thải nhựa.

Điều đó cho thấy bảo tồn biển hiện nay không còn là câu chuyện riêng của cơ quan quản lý mà cần sự tham gia của toàn xã hội, phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp.

“Giàu từ biển nhưng không làm nghèo biển”

PV: Nếu gửi gắm một thông điệp cho quá trình sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo thời gian tới, ông kỳ vọng điều gì để Việt Nam vừa phát triển mạnh kinh tế biển, vừa bảo vệ được tài nguyên và môi trường biển cho các thế hệ tương lai?

PGS, TS. Nguyễn Chu Hồi:

Theo tôi, điều quan trọng nhất là biển, đảo, vùng ven biển phải được quản lý tổng hợp theo không gian, dựa vào hệ sinh thái và cơ chế phối hợp liên ngành. Biển không chỉ chứa đựng các giá trị di sản tự nhiên và văn hoá biển độc đáo, mà còn là không gian sinh tồn, không gian an ninh - nền tảng để duy trì phát triển bền vững kinh tế biển của đất nước. Do đó, quá trình sửa đổi Luật lần này cần hướng tới mục tiêu xây dựng một thể chế quản trị biển hiện đại, tích hợp, hiệu quả và có tầm nhìn dài hạn.

Chúng ta vẫn cần phát triển mạnh kinh tế biển nhưng phải theo hướng “Làm giàu từ biển, nhưng không được làm nghèo biển”. Nghĩa là khai thác phải đi đôi với phục hồi, phát triển; phải cùng nhau bảo tồn và mọi quyết sách liên quan đến biển cần đặt lợi ích lâu dài, toàn cục của quốc gia lên hàng đầu.

Tôi kỳ vọng Luật này sau khi được hoàn thiện sẽ thực sự trở thành nền tảng pháp lý quan trọng để Việt Nam hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển và phát triển bền vững trong thế kỷ XXI.

PV: Trân trọng cảm ơn ông!

 

Hồng Minh (thực hiện)