Trước nhu cầu vật liệu xây dựng gia tăng mạnh phục vụ các dự án đầu tư công và dân sinh, Thanh Hóa triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm mở rộng nguồn cung, siết chặt quản lý khai thác và kiểm soát giá bán. Các biện pháp được thực hiện từ khâu rà soát trữ lượng, cấp phép mỏ mới đến tận dụng nguồn khoáng sản dôi dư, hướng tới mục tiêu ổn định thị trường và bảo đảm tiến độ thi công trong năm 2026.
Siết quản lý khai thác, chủ động cân đối cung – cầu
Thực hiện chỉ đạo của UBND tỉnh, Sở Nông nghiệp và Môi trường Thanh Hóa đã yêu cầu các doanh nghiệp khai thác khoáng sản tuân thủ nghiêm quy định pháp luật, thực hiện kê khai, niêm yết giá công khai và báo cáo đầy đủ sản lượng, tồn kho cũng như khả năng cung ứng. Các đơn vị phải khai thác đúng vị trí, ranh giới, công suất và trữ lượng được cấp phép; mọi hành vi đầu cơ, găm hàng, nâng giá bất hợp lý sẽ bị xử lý nghiêm.
Chính quyền cấp xã, phường cũng được giao tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động khai thác và vận chuyển khoáng sản, kịp thời phát hiện vi phạm, đồng thời theo dõi sát biến động giá cả và nhu cầu thực tế tại địa phương.
Theo tính toán, năm 2026 nhu cầu đất san lấp cho các công trình sử dụng vốn ngân sách nhà nước khoảng 23,533 triệu m³, tổng nhu cầu toàn tỉnh lên tới 75,583 triệu m³. Đối với đá xây dựng, nhu cầu cho đầu tư công khoảng 6,342 triệu m³, còn tổng nhu cầu ước 15,495 triệu m³. Cát xây dựng cần khoảng 5,398 triệu m³ cho các dự án đầu tư công và 9,612 triệu m³ cho toàn tỉnh.
Trước áp lực này, tỉnh đã rà soát toàn bộ các mỏ đang hoạt động và dự kiến đưa vào khai thác. Hiện có 44 mỏ đất san lấp với tổng công suất khoảng 24,36 triệu m³/năm; khi các mỏ mới hoàn tất thủ tục cấp phép trong tháng 3/2026, công suất dự kiến nâng lên 30,71 triệu m³, đáp ứng cơ bản nhu cầu đầu tư công và hơn một nửa nhu cầu chung.
Với đá xây dựng, 182/212 mỏ còn thời hạn đang khai thác, tổng công suất hơn 8 triệu m³/năm, đủ phục vụ các dự án vốn ngân sách và đáp ứng khoảng 76% nhu cầu toàn tỉnh.
Riêng cát xây dựng vẫn là lĩnh vực chịu nhiều sức ép. Toàn tỉnh hiện có 7 mỏ hoạt động với công suất khoảng 0,295 triệu m³/năm. Tuy nhiên, khi các giải pháp bổ sung nguồn cung được triển khai trong năm 2026, tổng công suất dự kiến có thể đạt khoảng 7,795 triệu m³ (tương đương 8,77 triệu m³ nguyên khai), cơ bản đáp ứng nhu cầu đầu tư công và trên 91% nhu cầu toàn tỉnh.
Mở rộng đấu giá, khai thác hiệu quả nguồn vật liệu phát sinh
Song song với việc kiểm soát khai thác hiện hữu, Thanh Hóa đẩy mạnh quy hoạch và đấu giá quyền khai thác khoáng sản, đồng thời tận dụng nguồn vật liệu dôi dư từ các dự án.
Sở Nông nghiệp và Môi trường đã tham mưu phê duyệt 22 khu vực không đấu giá quyền khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường nhằm phục vụ các công trình trọng điểm. Trong số này, 3 mỏ đất đã được cấp phép với tổng khối lượng khoảng 1 triệu m³, góp phần tháo gỡ khó khăn về nguồn cung.
Trong hai tháng đầu năm 2026, cơ quan chức năng cũng xác nhận đăng ký thu hồi khoáng sản dôi dư cho 10 dự án, gồm 13,5 triệu m³ đất san lấp, 2,7 triệu m³ đá và 0,9 triệu m³ cát nhiễm mặn. Việc tận dụng nguồn vật liệu phát sinh ngay tại công trường không chỉ bổ sung nguồn cung kịp thời mà còn giảm chi phí vận chuyển, hạn chế thất thoát tài nguyên.
Bên cạnh đó, tỉnh đã rà soát và đề xuất bổ sung kế hoạch đấu giá quyền khai thác tại 22 khu vực mỏ mới, ưu tiên những vị trí có trữ lượng tốt, thuận lợi cho vận chuyển đến các dự án hạ tầng, khu kinh tế, khu công nghiệp. Quá trình đấu giá được công khai, minh bạch, tăng cường thẩm định năng lực nhà đầu tư và phòng ngừa tình trạng thông đồng, thao túng.
Cùng với mục tiêu tăng sản lượng, Thanh Hóa đặt yêu cầu nghiêm ngặt về bảo vệ môi trường và phục hồi sau khai thác, bảo đảm cân bằng giữa phát triển kinh tế và gìn giữ tài nguyên, cảnh quan, đời sống người dân khu vực có mỏ.
Với các giải pháp đồng bộ từ quản lý, cấp phép đến đấu giá và tận dụng nguồn dôi dư, Thanh Hóa đang từng bước chủ động nguồn vật liệu xây dựng, hạn chế nguy cơ khan hiếm, góp phần ổn định giá cả và bảo đảm tiến độ các công trình trọng điểm trong năm 2026 và những năm tiếp theo.