Thể chế hóa và hoàn thiện pháp luật về biển và hải đảo

Thể chế hóa và hoàn thiện pháp luật về biển và hải đảo

Chủ nhật, 27/9/2026, 22:45 (GMT+7)
logo Xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đặt ra yêu cầu đồng thời về phát triển kinh tế, quản trị không gian, bảo vệ môi trường, bảo tồn hệ sinh thái, khoa học, công nghệ, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Trong tổng thể đó, hoàn thiện thể chế có vai trò tạo lập nền tảng cho phát triển không gian biển bền vững.
bien-my-khe-da-nang_1790225133.jpg
Bãi biển Mỹ Khê, TP. Đà Nẵng. Ảnh In

Quản trị biển bền vững từ đổi mới thể chế 

Nghị quyết 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh (Nghị quyết 20-NQ/TW) xác định một bước chuyển quan trọng trong tư duy phát triển biển: Chuyển mạnh từ khai thác biển sang quản trị biển hiện đại; từ phát triển kinh tế ven biển sang phát triển quốc gia biển mạnh; từ quản lý theo ngành sang quản trị tổng hợp, thống nhất không gian biển quốc gia. Cùng với đó, yêu cầu hoàn thiện thể chế để khơi thông, huy động và phân bổ hiệu quả nguồn lực, hình thành các cực tăng trưởng, trung tâm kinh tế và hành lang kinh tế biển, gắn kết đất liền - biển - đảo và các không gian phát triển mới.

Đây không chỉ là sự thay đổi về phương thức quản lý mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới căn bản trong tổ chức và vận hành hệ thống quản trị biển. Quản trị biển tổng hợp đòi hỏi sự thống nhất về không gian, sự phối hợp giữa các ngành, lĩnh vực và địa phương, đồng thời hài hòa các mục tiêu phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường, bảo tồn hệ sinh thái, quốc phòng, an ninh và đối ngoại.

Theo Nghị quyết 20-NQ/TW, mục tiêu đến năm 2030 là xây dựng nền tảng vững chắc để Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh; hình thành hệ thống quản trị biển quốc gia hiện đại, thống nhất, đồng bộ, dựa trên khoa học, công nghệ và dữ liệu số; quản lý, khai thác, sử dụng hiệu quả, bền vững tài nguyên và không gian biển; từng bước làm chủ biển xa, biển sâu và các không gian phát triển mới trên biển; bảo vệ môi trường, bảo tồn và phục hồi hệ sinh thái biển. Kinh tế biển được định hướng phát triển hiện đại, có năng lực cạnh tranh cao.

Để đạt mục tiêu đó, Nghị quyết đặt yêu cầu nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về biển, chuyển mạnh từ quản lý theo ngành sang mô hình quản trị hiện đại, tổng hợp, thống nhất không gian biển quốc gia trên cơ sở dữ liệu số và quy hoạch không gian biển. Phạm vi quản trị được đặt trong mối liên hệ đồng bộ giữa vùng biển, đáy biển, lòng đất dưới biển, đảo, vùng ven biển và vùng trời trên biển; đồng thời yêu cầu bảo đảm liên kết, điều phối hiệu quả giữa các ngành, lĩnh vực và địa phương.

Đi cùng với đó là yêu cầu hài hòa quan hệ giữa phát triển và bảo tồn, giữa lợi ích quốc gia và lợi ích địa phương, giữa phát triển kinh tế với quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Đây là những yêu cầu đòi hỏi phải có một nền tảng pháp lý đủ đồng bộ, thống nhất và phù hợp với phương thức quản trị mới.

Do đó, Nghị quyết 20-NQ/TW xác định hoàn thiện thể chế là đột phá chiến lược. Đổi mới quản trị không gian biển quốc gia được xác định là nội dung cốt lõi, mang tính đột phá trong hoàn thiện thể chế phát triển quốc gia biển mạnh. Nghị quyết yêu cầu khẩn trương rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật về biển, hải đảo và các lĩnh vực liên quan, bảo đảm thống nhất, đồng bộ, minh bạch, ổn định, khả thi và có sức cạnh tranh quốc tế; đồng thời, tháo gỡ các điểm nghẽn, chồng chéo, mâu thuẫn, giải phóng và huy động hiệu quả các nguồn lực, phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế và chủ động nhận diện, dự báo, đón đầu các xu hướng phát triển, các lĩnh vực biển mới.

Hoàn thiện pháp luật để thể chế hóa tư duy quản trị biển mới

Từ yêu cầu đổi mới quản trị biển, Nghị quyết 20-NQ/TW đặt ra nhiệm vụ cụ thể về hoàn thiện pháp luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo. Theo đó, cần xác lập nguyên tắc quản trị không gian biển theo hướng hiện đại, tổng hợp, thống nhất, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững biển, đại dương. Điểm đáng chú ý là yêu cầu hoàn thiện pháp luật được đặt trong tổng thể của quản trị không gian biển, không chỉ giới hạn ở việc điều chỉnh hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên. 

Nghị quyết yêu cầu hoàn thiện cơ chế giao, cho thuê, đấu giá, đăng ký, cấp giấy chứng nhận sử dụng, khai thác không gian biển; quy định rõ quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia hoạt động trên không gian biển, trong đó có quyền chuyển nhượng, thế chấp, góp vốn, cho thuê lại. Đồng thời, khai thác, sử dụng phải gắn với bảo tồn, phục hồi hệ sinh thái và đa dạng sinh học biển.

ban-sao-cua-ban-sao-cua-ban-sao-cua-dji_0378_1790234421.jpg
Nghị quyết quy định rõ quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia hoạt động trên không gian biển. Ảnh: STP Group

Cách tiếp cận này cho thấy yêu cầu hoàn thiện pháp luật phải đáp ứng đồng thời hai nhiệm vụ: Tạo hành lang pháp lý cho phát triển và bảo đảm giới hạn sinh thái, khả năng chịu tải của môi trường biển, đại dương. Đây cũng là sự cụ thể hóa quan điểm của Nghị quyết 20-NQ/TW về khai thác, sử dụng hiệu quả, bền vững tài nguyên biển gắn với bảo vệ môi trường, bảo tồn hệ sinh thái biển theo hướng xanh, thông minh; kiên quyết không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần.

Trong quá trình đó, quy hoạch không gian biển quốc gia được đặt vào vị trí đặc biệt quan trọng. Nghị quyết yêu cầu hoàn thiện quy định, hướng dẫn kỹ thuật về phân vùng chức năng, sử dụng không gian biển, bảo đảm quy hoạch không gian biển quốc gia trở thành công cụ quản lý tổng hợp và điều phối phát triển không gian biển quốc gia, có tính ràng buộc đối với toàn bộ hệ thống quy hoạch ngành, vùng và địa phương ven biển.

Khi được đặt đúng vị trí trong hệ thống quản trị, quy hoạch không gian biển không chỉ là công cụ định hướng phát triển mà còn là căn cứ để phân bổ nguồn lực, giao, cho thuê không gian biển; kiểm soát, xử lý xung đột, tránh chồng lấn, thiếu phối hợp trong sử dụng không gian biển. Đây là yêu cầu trực tiếp gắn giữa đổi mới thể chế với đổi mới phương thức quản trị.

Cùng với hoàn thiện các quy định về không gian biển, Nghị quyết 20-NQ/TW cũng yêu cầu kiện toàn, đổi mới toàn diện cơ chế điều phối liên ngành về biển và đại dương theo hướng thống nhất, tập trung, đồng bộ, hiệu quả giữa các ngành, lĩnh vực và địa phương. Chính phủ thống nhất quản lý, giao một cơ quan chủ trì điều phối các hoạt động trên biển, phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức liên quan.

Đây là một yêu cầu có tính hệ thống. Bởi quản trị tổng hợp, thống nhất không gian biển không thể chỉ dựa vào một quy định pháp luật riêng lẻ, mà cần sự đồng bộ giữa thể chế, quy hoạch, cơ chế phối hợp, phân định trách nhiệm và tổ chức thực thi.

Trên cơ sở đó, Chương trình hành động số 34-CTr/TW ngày 28/7/2026 của Bộ Chính trị thực hiện Nghị quyết 20-NQ/TW đã cụ thể hóa các nhiệm vụ về hoàn thiện thể chế quản trị biển; khẩn trương sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; đổi mới công tác Quy hoạch không gian biển quốc gia; hoàn thiện cơ chế giao, cho thuê, đấu giá, đăng ký, cấp giấy chứng nhận và thực hiện các quyền của người sử dụng khu vực biển.

2. Hoàn thiện thể chế, đổi mới công tác quy hoạch không gian biển quốc gia, tạo đột phá phát triển quốc gia biển mạnh

- Khẩn trương rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật về biển, hải đảo và các lĩnh vực liên quan bảo đảm thống nhất, đồng bộ, minh bạch, ổn định, khả thi và có sức cạnh tranh quốc tế. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật về biển, gắn trách nhiệm của cơ quan thực thi với kết quả thực hiện.

- Khẩn trương sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; hoàn thiện cơ chế giao, cho thuê, đấu giá, đăng ký, cấp giấy chứng nhận sử dụng, khai thác không gian biển;...

(Trích Chương trình số 34-CTr/TW, ngày 28/7/2026 ngày 28/7/2026 của Bộ Chính trị thực hiện Nghị quyết 20-NQ/TW)


Chương trình hành động đồng thời đặt ra các nhiệm vụ về huy động nguồn lực, tài chính xanh; phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, dữ liệu biển; bảo vệ môi trường, phục hồi hệ sinh thái, phát triển cộng đồng và văn hóa biển; tăng cường quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hợp tác quốc tế về biển, đại dương.

Đặc biệt, Chương trình xác định nhiệm vụ ban hành Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) trong năm 2026. Đây là yêu cầu trực tiếp về nội dung và tiến độ thể chế hóa Nghị quyết 20-NQ/TW. Vì vậy, việc sửa đổi Luật cần được đặt trong tổng thể yêu cầu hoàn thiện pháp luật để hình thành nền tảng pháp lý cho phương thức quản trị biển hiện đại, tổng hợp và thống nhất.

Yêu cầu này cũng phù hợp với định hướng của Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ XIV của Đảng về tiếp tục hoàn thiện đồng bộ pháp luật, cơ chế, chính sách, quy hoạch về quản lý tổng hợp, sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học, duy trì cân bằng sinh thái. 

Từ Nghị quyết 20-NQ/TW đến Chương trình hành động số 34-CTr/TW tiếp tục cụ thể hóa bằng những nhiệm vụ cụ thể về hoàn thiện thể chế, sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, đổi mới quy hoạch không gian biển và hoàn thiện cơ chế quản lý, sử dụng không gian biển bền vững.

Nguyên Khôi