Nếu ở đảo Bé, người dân phải sống dựa vào nước mưa vì không có nguồn nước ngầm để khai thác, thì tại đảo Lớn - trung tâm của đặc khu Lý Sơn - một nghịch lý khác đang diễn ra. Hàng nghìn giếng đào, giếng khoan ngày đêm hút nước từ lòng đất để phục vụ sinh hoạt và sản xuất. Thế nhưng, càng khai thác nhiều, nguồn nước ngọt càng suy giảm, nguy cơ nhiễm mặn càng hiện hữu.
Hòn đảo của hàng nghìn giếng nước
Những ngày hè, khi nắng nóng phủ kín đảo Lý Sơn, trên các cánh đồng hành, tỏi, người dân vẫn tất bật kéo ống, vận hành máy bơm để tận dụng từng mạch nước ngầm cứu cây trồng.
Nguồn nước dưới lòng đất từ lâu đã trở thành “mạch sống” của hòn đảo. Không chỉ phục vụ sinh hoạt cho hơn 22.000 cư dân, nước ngầm còn nuôi sống 325 ha đất nông nghiệp, nơi làm nên thương hiệu hành, tỏi Lý Sơn nổi tiếng cả nước.
Tuy nhiên, nguồn tài nguyên tưởng như vô tận ấy đang chịu sức ép ngày càng lớn. Theo thống kê, trên địa bàn đặc khu Lý Sơn hiện có 2.149 giếng khai thác nước dưới đất, gồm 939 giếng đào, 1.088 giếng khoan thủ công và 122 giếng khoan máy. Mật độ giếng nước cực kỳ dày đặc, vượt mức 210 giếng/km². Tổng lượng nước khai thác lên tới hơn 21.700m³ mỗi ngày đêm.
Trong khi đó, kết quả điều tra tài nguyên nước cho thấy trữ lượng tiềm năng của nguồn nước dưới đất trên đảo chỉ khoảng 10.700m³/ngày đêm, còn trữ lượng có thể khai thác bền vững chỉ vào khoảng 3.200m³/ngày đêm.
Điều đó đồng nghĩa lượng nước đang được khai thác lớn hơn rất nhiều lần so với khả năng phục hồi của tầng chứa nước. Hệ quả là nhiều khu vực trên đảo đã xuất hiện tình trạng suy giảm mực nước ngầm, nhiễm mặn ngày càng nghiêm trọng.
Từ nhiều năm trước, để có nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất, người dân liên tục dò tìm mạch nước rồi đào giếng ven biển. Nhưng càng nhiều giếng được hình thành, nguy cơ xâm nhập mặn càng gia tăng. Trước thực trạng đó, năm 2016, tỉnh Quảng Ngãi đã ban hành quy định cấm đào, khoan giếng mới trên đảo Lý Sơn. Các trường hợp muốn khoan giếng đều phải được cơ quan có thẩm quyền cho phép.
Cuộc chiến giữ từng giọt nước cho đồng hành, ruộng tỏi
Tại thôn Đông An Vĩnh, gia đình ông Lê Thanh Tiễn vừa xuống giống vụ hành mới trên hơn 5 sào đất sau khi thu hoạch tỏi. Khu vực sản xuất của gia đình ông nằm gần giếng Ông Lý - một trong những nguồn nước ngầm lớn trên đảo. Đây cũng là nơi nhiều hộ dân cùng khai thác.
“Dù giếng chưa cạn nhưng vào mùa cao điểm, áp lực rất lớn. Có hộ phải kéo ống hàng trăm mét, thậm chí cả cây số để dẫn nước về ruộng. Vì vậy ai cũng phải sử dụng thật tiết kiệm”, ông Tiễn nói.
Không riêng gia đình ông Tiễn, nhiều nông dân trên đảo cũng đang phải “liệu cơm gắp mắm” trước tình trạng nguồn nước ngày càng khan hiếm.
Bà Phạm Thị Trường cho biết những năm gần đây, nắng nóng kéo dài khiến nhiều giếng nước bị cạn hoặc nhiễm mặn. Để giảm nhu cầu tưới tiêu, nhiều hộ đã chuyển một phần diện tích từ trồng hành sang trồng bắp (ngô).
“Nhiều khi vẫn không đủ nước tưới. Người dân phải mua nước từ các hộ có giếng với giá khoảng 120.000 – 150.000 đồng mỗi giờ tưới”, bà Trường cho hay.
Trên các cánh đồng, người dân vẫn duy trì phương thức canh tác đặc trưng của Lý Sơn là phủ cát trắng lên mặt ruộng. Lớp cát không chỉ tạo nên hương vị riêng cho hành, tỏi mà còn giúp giữ ẩm, giảm nhiệt cho đất, hạn chế thất thoát nước trong mùa nắng nóng.
Ông Nguyễn Thành Dũng, người canh tác hơn 1 ha hành, tỏi ở Đông An Vĩnh, cho biết từ nhiều năm trước đã sử dụng béc phun để tưới tiết kiệm. Đồng thời, gia đình phải chia nhỏ diện tích sản xuất, ưu tiên những vùng có điều kiện tưới thuận lợi hơn.
“Mỗi lần tưới chỉ khoảng 20 phút rồi luân phiên sang ruộng khác. Chủ yếu tưới vào sáng sớm hoặc chiều tối để giảm thất thoát nước”, ông Dũng chia sẻ.
Theo kinh nghiệm của người dân địa phương, hành có thể trồng ba vụ mỗi năm, còn tỏi chỉ một vụ. Những năm hạn nặng, nhiều hộ buộc phải giảm diện tích hoặc chuyển sang các loại cây trồng cần ít nước hơn để thích ứng với điều kiện thực tế.
Không chỉ sản xuất nông nghiệp chịu ảnh hưởng, tình trạng khan hiếm nước ngọt còn tác động trực tiếp đến đời sống sinh hoạt của người dân trên đảo.
Ông Trần Minh Hoàng, ở thôn Đông An Vĩnh, cho biết qua từng năm, tình trạng thiếu nước và nước nhiễm mặn ngày càng rõ rệt hơn.
“Vụ hành sắp tới nếu đủ nước thì khả năng được mùa, được giá rất cao vì không bị ảnh hưởng bởi sương bệnh. Nhưng đây cũng là giai đoạn nắng nóng nhất nên thiếu nước rất nghiêm trọng. Ngay cả nước sinh hoạt, gia đình tôi cũng phải mua nước bình để uống vì lo nguồn nước ngầm bị nhiễm mặn”, ông Hoàng nói.
Tình trạng thiếu nước ngọt và nhiễm mặn hiện đã ảnh hưởng đến toàn bộ diện tích sản xuất nông nghiệp của đảo cùng hàng chục nghìn cư dân đang sinh sống trên địa bàn.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng cực đoan, các đợt nắng nóng kéo dài xuất hiện với tần suất cao hơn, áp lực lên nguồn nước ngầm vốn hữu hạn càng trở nên nặng nề.
Khi du lịch tăng tốc
Nỗi lo về nguồn nước không chỉ dừng lại ở sản xuất và sinh hoạt. Bởi lẽ theo Đề án phát triển đặc khu Lý Sơn thành trung tâm du lịch biển đảo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, du lịch được xác định là động lực tăng trưởng chính của địa phương.
Đề án đặt ra các mục tiêu, đến năm 2030, Lý Sơn đặt mục tiêu trở thành trung tâm du lịch biển đảo vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, được công nhận là Khu du lịch quốc gia, với các khu nghỉ dưỡng cao cấp và du lịch cộng đồng đặc sắc. Tầm nhìn đến năm 2045, Lý Sơn sẽ vươn tầm thành trung tâm du lịch biển đảo của cả nước, một điểm đến quan trọng trên tuyến du lịch đường biển quốc tế, khai thác tối ưu lợi thế để đa dạng hóa sản phẩm và tiếp cận thị trường.
Các chỉ tiêu cụ thể bao gồm đón 400 nghìn lượt khách vào năm 2030 (trong đó 10 nghìn lượt khách quốc tế) với tổng thu 900 tỷ đồng, và đạt 2,5 triệu lượt khách vào năm 2045 (trong đó 80 nghìn lượt khách quốc tế) với tổng thu 4.500 tỷ đồng. Ngành du lịch - dịch vụ dự kiến đóng góp 60% GRDP đặc khu Lý Sơn vào năm 2030 và 70% vào năm 2045.
Để hiện thực hóa mục tiêu trên, hàng loạt dự án hạ tầng, khu nghỉ dưỡng, công viên ven biển, phố đi bộ, chợ đêm, các công trình văn hóa và dịch vụ vui chơi giải trí được quy hoạch phát triển trong tương lai.
Điều đó đồng nghĩa nhu cầu sử dụng nước ngọt sẽ tiếp tục tăng mạnh. Trong khi nguồn nước ngầm đang bị khai thác vượt xa khả năng phục hồi, câu hỏi đặt ra là Lý Sơn sẽ lấy đâu ra nguồn nước để phục vụ phát triển trong tương lai.
Nếu đảo Bé đang khát vì không có nước ngầm, thì đảo Lớn lại đối diện một thách thức khác: nguồn nước vẫn còn dưới lòng đất nhưng đang dần cạn kiệt vì áp lực khai thác quá lớn. Bài toán cân bằng giữa phát triển kinh tế, du lịch với bảo vệ tài nguyên nước vì thế trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết đối với hòn đảo tiền tiêu giữa Biển Đông.
Bài 3: Tìm lời giải an ninh nước ngọt cho đảo tiền tiêu