Sau khi nhận diện điểm nghẽn, hoàn thiện thể chế và lắng nghe thực tiễn từ cơ sở, Thanh Hóa đang bước vào giai đoạn quyết định: chuyển các cơ chế, chính sách thành nguồn cung vật liệu xây dựng thực tế. Hiệu quả của các giải pháp triển khai trong năm 2026 sẽ không chỉ giải quyết tình trạng khan hiếm trước mắt mà còn định hình một thị trường khoáng sản minh bạch, ổn định và phát triển bền vững.
Cơ chế đặc thù, nguồn cung thực chất
Năm 2026 được xem là giai đoạn bản lề trong công tác quản lý khoáng sản của Thanh Hóa. Luật Địa chất và Khoáng sản năm 2025 cùng Nghị quyết số 66.4/NQ-CP của Chính phủ đã tạo hành lang pháp lý thuận lợi hơn để địa phương chủ động tháo gỡ những điểm nghẽn kéo dài trong hoạt động cấp phép, khai thác và cung ứng vật liệu xây dựng.
Nếu như trước đây khó khăn chủ yếu nằm ở quy trình thủ tục kéo dài, nhiều mỏ đã được cấp phép nhưng chưa thể khai thác do chưa hoàn tất thuê đất hoặc các thủ tục liên quan thì hiện nay trọng tâm của tỉnh đã chuyển sang mục tiêu đưa các mỏ nhanh chóng đi vào hoạt động, biến tiềm năng tài nguyên thành nguồn lực phục vụ phát triển.
Thời gian qua, Sở Nông nghiệp và Môi trường Thanh Hóa đã tham mưu UBND tỉnh cấp phép thăm dò 9 mỏ khoáng sản gồm cát, đá và sét xi măng; phê duyệt trữ lượng 9 mỏ đá vật liệu xây dựng; cấp 14 giấy phép khai thác khoáng sản với tổng trữ lượng khoảng 17,1 triệu m³ đất san lấp; cấp 21 giấy xác nhận thu hồi khoáng sản trong quá trình thi công dự án với khối lượng khoảng 24,1 triệu m³; đồng thời tham mưu nâng công suất khai thác nhiều mỏ đang hoạt động.
Song song với đó, tỉnh đã phê duyệt 17 khu vực không đấu giá quyền khai thác khoáng sản; thống nhất chủ trương đấu giá 21 mỏ khoáng sản mới; rà soát, bổ sung 44 mỏ vào Quy hoạch tỉnh Thanh Hóa thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045 nhằm chuẩn bị nguồn cung lâu dài.
Đáng chú ý, việc áp dụng cơ chế đặc thù đã tạo chuyển biến rõ nét. Trong số các giấy phép khai thác được cấp thời gian qua có 7 giấy phép theo cơ chế đặc thù và 7 giấy phép thông qua đấu giá quyền khai thác khoáng sản. Đây được xem là sự kết hợp hài hòa giữa yêu cầu bảo đảm nguồn vật liệu phục vụ các công trình cấp bách với nguyên tắc công khai, minh bạch trong quản lý tài nguyên.
Thực tế cho thấy, giải quyết bài toán vật liệu xây dựng không chỉ dừng lại ở việc cấp thêm giấy phép. Quan trọng hơn là đưa giấy phép thành sản lượng thực tế.
Bởi vậy, tỉnh đang tập trung đôn đốc các doanh nghiệp hoàn thiện thủ tục thuê đất đối với các mỏ đã được cấp phép nhưng chưa đủ điều kiện khai thác. Mục tiêu đặt ra là các mỏ này phải đủ điều kiện vận hành ngay trong tháng 7/2026.
Cùng với đó, các địa phương được yêu cầu phối hợp chặt chẽ với doanh nghiệp giải quyết nhanh các vướng mắc về mặt bằng, thủ tục hành chính, môi trường và các điều kiện liên quan để rút ngắn thời gian chuẩn bị đầu tư.
Một điểm mới đáng ghi nhận là phương thức điều hành ngày càng sát thực tiễn hơn. Sở Nông nghiệp và Môi trường đã chủ động cung cấp đầy đủ thông tin về từng mỏ vật liệu cho các ban quản lý dự án và địa phương, từ vị trí, giấy phép, công suất, trữ lượng đến đầu mối liên hệ của doanh nghiệp và cơ quan quản lý. Điều này giúp các đơn vị thi công tiếp cận nguồn vật liệu nhanh hơn, đồng thời xử lý kịp thời các khó khăn phát sinh trong quá trình cung ứng.
Bên cạnh cải cách thủ tục hành chính, Thanh Hóa cũng tăng cường kỷ cương trong quản lý khoáng sản. Những doanh nghiệp chậm đưa mỏ vào khai thác không có lý do chính đáng sẽ bị xem xét xử lý theo quy định, thậm chí thu hồi giấy phép hoặc hủy kết quả đấu giá nhằm tránh tình trạng "ôm mỏ", gây lãng phí tài nguyên và ảnh hưởng đến thị trường.
Hướng tới thị trường vật liệu xây dựng ổn định, phát triển bền vững
Trong bối cảnh hàng loạt dự án giao thông, khu công nghiệp, khu đô thị và các công trình trọng điểm đang được triển khai đồng loạt, nhu cầu vật liệu xây dựng của Thanh Hóa vẫn tiếp tục ở mức rất cao. Vì vậy, mục tiêu của tỉnh không chỉ là giải quyết tình trạng khan hiếm cục bộ trong ngắn hạn mà còn xây dựng một thị trường vật liệu phát triển ổn định, chủ động và bền vững.
Theo kế hoạch triển khai trong giai đoạn tháng 6 và tháng 7/2026, nhiều giải pháp đồng thời được thực hiện đối với từng nhóm vật liệu. Đối với đất san lấp, tỉnh tập trung hoàn thiện thủ tục thuê đất cho 7 mỏ đã được cấp phép tại các xã Trường Lâm, Tượng Lĩnh, Thọ Ngọc và Xuân Du; cấp mới một số mỏ theo cơ chế đặc thù tại Xuân Du, Sao Vàng, Trường Lâm và Ngọc Trạo; đồng thời nâng công suất khai thác các mỏ đủ điều kiện.
Bên cạnh đó, Sở Nông nghiệp và Môi trường đang thẩm định thêm 4 hồ sơ xác nhận thu hồi đất san lấp trong quá trình thi công dự án với khối lượng khoảng 0,7 triệu m³. Khi các giải pháp này hoàn thành, tổng nguồn cung đất san lấp bổ sung ước đạt khoảng 11,7 triệu m³, đáp ứng khoảng 63,6% nhu cầu của toàn tỉnh trong tháng 7.
Đối với cát xây dựng, việc nâng công suất 2 mỏ hiện có và cấp mới 3 mỏ theo cơ chế đặc thù sẽ bổ sung khoảng 0,5 triệu m³ cát tự nhiên cho thị trường.
Ở nhóm đá xây dựng, tỉnh dự kiến cấp mới 2 mỏ đá, nâng công suất 2 mỏ tại xã Trường Lâm và cấp giấy xác nhận thu hồi đá làm vật liệu xây dựng tại Khu công nghiệp Đồng Vàng, bổ sung thêm khoảng 5 triệu m³ đá xây dựng.
Có thể thấy, thay vì chỉ trông chờ vào việc mở thêm nhiều mỏ mới, Thanh Hóa đang ưu tiên khai thác hiệu quả nguồn lực hiện có thông qua nâng công suất các mỏ đủ điều kiện, đưa nhanh các mỏ đã hoàn tất thủ tục vào khai thác và tận dụng hợp lý nguồn khoáng sản thu hồi trong quá trình thực hiện các dự án đầu tư. Đây là hướng đi vừa bảo đảm nguồn cung trước mắt, vừa hạn chế việc mở rộng khai thác tràn lan, góp phần sử dụng tiết kiệm tài nguyên và giảm tác động đến môi trường.
Một yếu tố quan trọng khác là quy hoạch dài hạn. Việc rà soát, điều chỉnh, bổ sung 44 mỏ khoáng sản vào Quy hoạch tỉnh không chỉ phục vụ nhu cầu của giai đoạn hiện nay mà còn tạo dư địa cho phát triển trong nhiều năm tới, nhất là khi Thanh Hóa đang hướng đến mục tiêu trở thành cực tăng trưởng mới ở khu vực Bắc Trung Bộ.
Tuy nhiên, để các giải pháp phát huy hiệu quả lâu dài, cần tiếp tục duy trì sự phối hợp chặt chẽ giữa các sở, ngành, địa phương và doanh nghiệp. Cùng với đó là nâng cao trách nhiệm của các chủ đầu tư mỏ trong việc thực hiện đúng cam kết tiến độ, bảo đảm an toàn lao động, bảo vệ môi trường và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính với Nhà nước.
Kinh nghiệm từ thực tiễn cũng cho thấy, chỉ khi ba yếu tố gồm thể chế thông thoáng, quản lý hiệu quả và trách nhiệm của doanh nghiệp được kết nối đồng bộ thì thị trường vật liệu xây dựng mới vận hành ổn định.
Hành trình tháo gỡ bài toán thiếu vật liệu xây dựng tại Thanh Hóa vẫn còn nhiều việc phải làm. Nhưng với những kết quả bước đầu trong cải cách thủ tục hành chính, triển khai cơ chế đặc thù, tăng cường kỷ cương quản lý và chủ động tạo nguồn cung mới, địa phương đang từng bước chuyển từ trạng thái bị động ứng phó sang chủ động điều tiết thị trường.
Đó không chỉ là lời giải cho nhu cầu vật liệu của các công trình hôm nay mà còn là nền tảng để Thanh Hóa khai thác hiệu quả tài nguyên, bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế, lợi ích của doanh nghiệp, quyền lợi của người dân và mục tiêu phát triển bền vững trong những năm tới.