![]()
Năm 2025, xuất khẩu thủy sản Việt
Để làm rõ những vấn đề này, phóng viên Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Hoài Nam, Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) về định hướng nâng cao giá trị thủy sản, phát triển kinh tế biển và những nhiệm vụ đặt ra trong thời gian tới.


PV: Năm 2025, xuất khẩu thủy sản Việt
Ông Nguyễn Hoài
Trước hết, về những khó khăn nội tại, quá trình tái cơ cấu ngành theo các chủ trương, chỉ đạo của cơ quan quản lý đặt ra yêu cầu sắp xếp lại, điều chỉnh các văn bản pháp quy và phương thức sản xuất, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững. Đây là một quá trình chuyển dịch nên không tránh khỏi những tác động nhất định.
![]()
![]()
Chẳng hạn, trong kiểm soát IUU, chúng ta không thể xuất khẩu như trước mà phải tăng cường sàng lọc, lựa chọn những lô hàng bảo đảm yêu cầu, đáp ứng các tiêu chuẩn về tính hợp pháp và minh bạch.
Đối với lĩnh vực nuôi trồng thủy sản cũng tương tự. Các thị trường nước ngoài ngày càng yêu cầu những chứng nhận khắt khe hơn. Để đạt được các chứng nhận này không thể thực hiện trong thời gian ngắn mà đòi hỏi một quá trình đầu tư, tổ chức sản xuất và hoàn thiện quy trình.
![]()
Vì vậy, trước những đơn hàng lớn, doanh nghiệp không phải lúc nào cũng có thể đáp ứng toàn bộ yêu cầu. Đây là những thách thức nội tại liên quan đến năng lực sản xuất, chứng nhận và khả năng thực hiện đơn hàng.
Bên cạnh đó, chi phí sản xuất trong nước gia tăng cũng khiến nhiều đơn hàng, đặc biệt tại những thị trường tương đối dễ tính nhưng có mức giá thấp, khó được triển khai. Khi mức giá đối tác đưa ra thấp hơn chi phí sản xuất thực tế, doanh nghiệp sẽ không thể tiếp tục thực hiện đơn hàng một cách hiệu quả.
Ở các thị trường quốc tế, những nước nhập khẩu thủy sản lớn cũng liên tục đưa ra các chính sách mới. Chẳng hạn, Hoa Kỳ thường xuyên áp dụng các biện pháp liên quan đến thuế và phi thuế quan nhằm bảo vệ hoạt động sản xuất trong nước. Điều này khiến một số doanh nghiệp của Việt
Tại châu Âu, các quy định và rào cản kỹ thuật cũng ngày càng được đặt ra ở mức cao, khiến một số đơn hàng có thể không vượt qua được các yêu cầu.
Nhìn tổng quan, kim ngạch 11,3 tỷ USD vẫn là một con số có ý nghĩa, tạo động lực cho các cơ quan quản lý nhà nước, các bộ, ngành, đặc biệt là cộng đồng doanh nghiệp và địa phương. Tuy nhiên, tiềm năng phát triển của ngành Thủy sản Việt

PV: Chế biến sâu và phát triển các sản phẩm thủy sản có giá trị gia tăng đang được xem là hướng đi quan trọng. Vậy, chúng ta cần những giải pháp gì để nâng cao giá trị thủy sản xuất khẩu?
Ông Nguyễn Hoài Nam: Về sản xuất hàng thủy sản giá trị gia tăng, có thể nói rằng, ở thời điểm hiện tại và trong ngắn hạn, khoảng 5 năm tới, đây vẫn là một thế mạnh, thậm chí là thế mạnh hàng đầu của Việt Nam.
Trong khoảng 20 năm qua, cộng đồng doanh nghiệp thủy sản Việt Nam đã đầu tư mạnh vào công nghệ chế biến, tạo ra nhiều sản phẩm giá trị gia tăng có khả năng đáp ứng yêu cầu của những thị trường lớn như châu Âu, Nhật Bản và Hoa Kỳ...
Các sản phẩm này có thể được đưa trực tiếp lên kệ hàng hoặc sử dụng ngay tại gia đình, khác với những mặt hàng còn ở dạng thô...
Điều đó cho thấy, công nghệ chế biến không chỉ là yếu tố kỹ thuật mà còn phản ánh năng lực cạnh tranh của ngành. Đặc biệt, trong lĩnh vực chế biến thủy sản, sản phẩm giá trị gia tăng là một lợi thế mà Việt Nam có thể tiếp tục phát huy để nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế.Vì vậy, VASEP mong muốn cơ quan quản lý nhà nước cần sớm ban hành các chính sách nhằm thúc đẩy năng lực cạnh tranh của ngành, nhất là đối với hoạt động sản xuất hàng giá trị gia tăng.
![]()
![]()
Đây là hướng đi dài hạn và cũng là lĩnh vực mà các nhà máy chế biến trong nước đã đầu tư trong thời gian dài. Vấn đề đặt ra là tiếp tục phát huy hiệu quả những nền tảng, năng lực và công nghệ để đáp ứng yêu cầu xuất khẩu.
Một số quốc gia có thế mạnh về sản xuất nguyên liệu hoặc các sản phẩm thô như
Dù vậy, chúng ta cũng không thể chủ quan, bởi trong vòng 5-7 năm tới, các quốc gia này hoàn toàn có thể từng bước thu hẹp khoảng cách.
Do đó, bên cạnh việc củng cố các nội lực khác, sản xuất hàng giá trị gia tăng đối với các mặt hàng tôm, cá tra, cá ngừ và những sản phẩm thủy sản khác sẽ tiếp tục là hướng đi mà Việt Nam và cộng đồng doanh nghiệp cần kiên trì theo đuổi, đầu tư và phát triển.

PV: Theo ông, để thủy sản thực sự trở thành một ngành kinh tế có sức cạnh tranh quốc tế, Việt
Ông Nguyễn Hoài Nam: Như chúng ta đã biết, vừa qua Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 20 về xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh. Có thể nói, Nghị quyết này có tính phổ quát, vừa có tầm nhìn dài hạn, vừa rất sát với một ngành hàng gắn với kinh tế biển.
Một trong những vấn đề được đặt ra là làm sao chuyển từ tăng trưởng về sản lượng sang nâng cao chất lượng và phát triển bền vững. Đây cũng là nội dung nằm trong định hướng của chúng ta về cơ cấu lại ngành Thủy sản.
Trong đó, trước hết là vấn đề khung pháp lý. Thứ hai là hạ tầng của ngành, hạ tầng của các ngành kinh tế biển, trong đó có thủy sản trên biển và ven bờ.
Đặc biệt, khoa học công nghệ phải gắn với bảo vệ môi trường. Những nền tảng này sẽ tạo điều kiện để điều tiết sản lượng, đồng thời gắn với một nhiệm vụ quan trọng khác của Nghị quyết là bảo tồn.
Đây cũng là điều kiện để phát huy và đẩy mạnh yếu tố chất lượng. Bởi chất lượng hàng hóa sẽ là một trong những trụ cột tạo nên thương hiệu.
Thời gian qua, Việt
![]()
![]()
Vì vậy, chất lượng là lĩnh vực cần được ưu tiên đầu tư một cách bài bản hơn. Bên cạnh trách nhiệm với môi trường và xã hội, chất lượng hàng hóa và vấn đề an toàn thực phẩm cũng cần được đặc biệt coi trọng.
Đây là những yếu tố quyết định để định hướng phát triển theo chất lượng không trở thành một điểm trừ đối với ngành thủy sản trong 10-20 năm tới.
Do đó, những tiêu chí được Nghị quyết 20 đề cập cần được ngành cụ thể hóa thành kế hoạch hành động, triển khai từ nay và định hướng trong những năm tới.

PV: Từ dấu mốc xuất khẩu thủy sản vượt 11 tỷ USD, Việt Nam cần làm gì để biến lợi thế về biển và nguồn lợi thủy sản thành sức mạnh kinh tế biển thực chất, có giá trị gia tăng cao và phát triển bền vững, qua đó góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh?
Ông Nguyễn Hoài Nam: Như tôi đã trwo đổi ở trên, Nghị quyết 20 có phạm vi bao trùm nhiều lĩnh vực, hình thành một hệ sinh thái kinh tế biển, hướng tới mục tiêu xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển.
Riêng đối với thủy sản, để đóng góp vào việc thực hiện các mục tiêu của Nghị quyết 20, theo tôi, ngành cần tập trung vào một số nhiệm vụ cốt lõi đã được nêu trong Nghị quyết.
Trước hết là tái cơ cấu đội tàu theo hướng hiện đại, đồng thời nâng cao năng lực quản lý, kiểm soát hoạt động khai thác.
Thứ hai là tập trung hơn nữa cho công tác bảo tồn. Những đánh giá của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp quốc (FAO) đã chỉ ra rằng, tại nhiều vùng đại dương, nguồn lợi thủy sản đang chịu sức ép lớn, thậm chí có những khu vực đứng trước nguy cơ suy giảm nghiêm trọng. Đây là vấn đề cần được quan tâm trong quá trình cơ cấu lại ngành.
Một nhiệm vụ quan trọng khác là phát triển hạ tầng, lĩnh vực đòi hỏi nguồn vốn đầu tư và sự tập trung nguồn lực.
![]()
![]()
Hạ tầng ngành Thủy sản hiện nay bao gồm cảng cá, cơ sở neo đậu tránh trú bão và đặc biệt là hạ tầng số phục vụ quản lý, giám sát. Đặc biệt, việc áp dụng chuyển đổi số là xu hướng không thể tách rời trong quá trình hiện đại hóa ngành, nhất là khi yêu cầu quản lý ngày càng cao.
Bên cạnh đó, ngành Thủy sản cần hướng mạnh hơn ra khơi xa. Điều này bao gồm cả việc tổ chức lại đội tàu để nâng cao năng lực khai thác xa bờ và phát triển nuôi biển.
Những định hướng này vừa góp phần duy trì năng lực sản xuất, vừa tăng cường sự hiện diện trên biển, đồng thời phải gắn chặt với yêu cầu bảo vệ môi trường và bảo tồn nguồn lợi.
![]()
![]()
Ở tầm nhìn lớn hơn, Trung ương đã nhìn thấy những vấn đề này và đưa vào định hướng của Nghị quyết 20. Tuy nhiên, khi cụ thể hóa trong phạm vi ngành thủy sản, cần xác định rõ các nhiệm vụ trọng tâm và lộ trình thực hiện.
Theo tôi, những nội dung cốt lõi như tái cơ cấu đội tàu, bảo tồn nguồn lợi, phát triển hạ tầng, chuyển đổi số, khai thác xa bờ và nuôi biển đều cần được cụ thể hóa bằng những chương trình, kế hoạch phù hợp.
Vấn đề cơ bản là Chính phủ và Bộ Nông nghiệp và Môi trường cần có kế hoạch cụ thể theo từng năm để triển khai các nhiệm vụ này. Đặc biệt, phải bảo đảm nguồn lực thực hiện, bao gồm công tác chỉ đạo, tổ chức bộ máy, con người, nguồn lực tài chính và các điều kiện cần thiết khác.
Có như vậy, những định hướng và mục tiêu mà Nghị quyết 20 đề ra mới có thể được cụ thể hóa thành kết quả thực tế trong ngành Thủy sản.

PV: Trong bối cảnh Nghị quyết 20 đặt yêu cầu phát huy mạnh mẽ tiềm năng, lợi thế của biển, ngành thủy sản cần đóng vai trò như thế nào trong việc nâng cao giá trị kinh tế biển?
Ông Nguyễn Hoài Nam: Tôi thấy rõ trong Nghị quyết 20 đã xác định những lĩnh vực kinh tế lớn trong hệ sinh thái biển, từ du lịch, dầu khí đến năng lượng tái tạo và thủy sản. Trung ương cũng đã đặt ra vị trí, vai trò quan trọng của thủy sản trong tổng thể phát triển kinh tế biển.
![]()
![]()
Những người công tác trong ngành, trong đó có VASEP nhận thức rõ trách nhiệm của mình trong việc đồng hành cùng Nhà nước, địa phương và cộng đồng ngư dân để xây dựng kinh tế biển, nhằm đưa thủy sản trở thành một ngành có đóng góp thực chất.
Từ mong muốn đến hành động và tạo ra kết quả cần có sự chỉ đạo, sự quan tâm và nguồn lực phù hợp. Đây là những điều kiện quan trọng để các định hướng của Nghị quyết 20 được triển khai hiệu quả trong thực tiễn.
![]()

![]()
Trong quá trình đó, VASEP cũng sẵn sàng đồng hành với Nhà nước trong việc xây dựng, hoàn thiện các cơ chế, chính sách và khung pháp lý, đồng thời tham gia vào quá trình tổ chức thực hiện các quyết định, chương trình hành động nhằm cụ thể hóa Nghị quyết 20 trong lĩnh vực thủy sản một cách thực chất, hiệu quả góp phần đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh trong thời gian tới.
PV: Xin cảm ơn ông về cuộc trao đổi này!