news
Ứng dụng mạng học sâu UNET phân loại lớp phủ bề mặt sử dụng dữ liệu mở Sentinel

Ứng dụng mạng học sâu UNET phân loại lớp phủ bề mặt sử dụng dữ liệu mở Sentinel

24/07/2026
Mạng học sâu chữ U (UNET) từ lâu đã được sử dụng để thực hiện công việc phân đoạn ảnh trong lĩnh vực thị giác máy tính. Tuy nhiên tiềm năng của mạng UNET có thể được mở rộng sang lĩnh vực viễn thám và hệ thông tin địa lý, cụ thể là bài toán phân loại lớp phủ bề mặt. Bài báo này trình bày thực nghiệm ứng dụng mạng học sâu chữ U để phân loại lớp phủ bề mặt thành phố Hà Nội.
  • Đánh giá tổng lượng nước trên mặt của khu vực vành đai kinh tế ven biển vịnh Bắc Bộ

    Đánh giá tổng lượng nước trên mặt của khu vực vành đai kinh tế ven biển vịnh Bắc Bộ

    Vùng nghiên cứu là vành đai kinh tế ven biển vịnh Bắc Bộ bao gồm toàn bộ phần đất liền của tỉnh Quảng Ninh và 1 phần TP. Hải Phòng có diện tích khoảng 6.620 km2. Địa hình khu vực nghiên cứu đa dạng gồm đồi, núi, đồng bằng ven biển với đặc điểm của khí hậu miền núi phía Bắc và đặc điểm khí hậu ven biển. Nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm có sự thay đổi khá rõ rệt giữa các mùa. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến hết tháng 10 với lượng mưa chiếm từ 75,6 - 85,5% tổng lượng mưa năm, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau.
  • Giải pháp phục hồi sông đô thị ở nước ta nhìn từ kinh nghiệm quốc tế

    Giải pháp phục hồi sông đô thị ở nước ta nhìn từ kinh nghiệm quốc tế

    Thực tế phát triển của nước ta từ năm 1986 đến nay cho thấy, tốc độ đô thị hóa trung bình tăng từ 30 % năm 2010 tới 40% năm 2022, đô thị có vị trí rất quan trọng trong phát triển KT-XH của đất nước. Cùng với sự phát triển kinh tế, đô thị hoá, các dòng sông ở đây bị ô nhiễm ngày càng nặng.
  • Đánh giá tổng lượng nước trên mặt lưu vực sông Lô Chảy

    Đánh giá tổng lượng nước trên mặt lưu vực sông Lô Chảy

    Vùng nghiên cứu là lưu vực sông (LVS) Lô Chảy có diện tích 8.887 km2, trong đó, sông Chảy là 4.527 km2 và sông Lô trên địa bàn tỉnh Hà Giang là 4.360 km2. Khu vực nghiên cứu có khí hậu nhiệt đới và á nhiệt đới, mùa đông khô, lạnh, mùa hè nóng, mưa nhiều. 84% lượng mưa năm tập trung vào mùa mưa, từ tháng IV đến X. Mùa khô từ tháng XI đến tháng III năm sau với 16% lượng mưa cả năm. Mạng lưới thủy văn gồm có 25 sông có chiều dài lớn hơn 20 km, gồm: Chảy, Nậm Phàng, Bắc Cuông, Ngòi Biệc, Suối Đỏ, suối Ngầm, Ngòi Thâu, suối Lẩu, suối Đại Cại, Ngòi Duẫn, Lô, Miện, Con, suối Bạc, Ngòi Kim, Ngòi Sảo, Nậm Am, suối Thanh Thủy, Nậm Má, suối Vạt, Nậm Dầu, suối Pác Xum, Ngòi Thản, Ngòi Giang, và suối Tràng Thâm.
  • Ứng dụng mô hình mạng nơ-ron nhân tạo dự báo mực nước dưới đất trong các tầng chứa nước khe nứt lưu vực sông Nhuệ - Đáy

    Ứng dụng mô hình mạng nơ-ron nhân tạo dự báo mực nước dưới đất trong các tầng chứa nước khe nứt lưu vực sông Nhuệ - Đáy

    Nước dưới đất (NDĐ) là nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá nhưng số lượng có hạn, cần được đánh giá một cách chính xác mới có các quyết định hợp lý liên quan đển quản lý, khai thác sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước dưới đất.
  • Cải tiến thuật toán RANSAC để phân biệt các chữ số trong hình ảnh nhiễu sử dụng Python

    Cải tiến thuật toán RANSAC để phân biệt các chữ số trong hình ảnh nhiễu sử dụng Python

    Tóm tắt: Trong bài báo này, nhóm tác giả đề xuất cải tiến thuật toán RANSAC để phân biệt các chữ số trong hình ảnh bị nhiễu sử dụng ngôn ngữ lập trình Python. Thuật toán cải tiến này cho phép đáp ứng một cách linh hoạt và mềm dẻo hơn so với các thuật toán trước đây. 
  • Về khả năng tồn tại các nguồn nước dưới đất ở vùng thềm lục địa nước ta 

    Về khả năng tồn tại các nguồn nước dưới đất ở vùng thềm lục địa nước ta 

    Vùng ven biển nước ta, trừ một vài nơi là đồi núi có cấu tạo bởi các đá có tuổi khác nhau, còn lại là các trầm tích tạo thành đồng bằng ven biển. Theo chiều từ Bắc vào Nam có Đồng bằng Bắc Bộ, Đồng bằng Thanh Hoá, Đồng bằng Nghệ An - Hà Tĩnh, Đồng bằng Quảng Bình, Đồng bằng Thừa Thiên-Huế, các đồng bằng ven biển Nam Trung Bộ, Đồng bằng Nam Bộ.
  • Giải pháp xanh bảo vệ, chống sạt lở mái taluy khu đô thị khu vực Đà Lạt

    Giải pháp xanh bảo vệ, chống sạt lở mái taluy khu đô thị khu vực Đà Lạt

    Để phát triển các khu đô thị khu vực Tây Nguyên nói chung và TP. Đà Lạt nói riêng, việc áp dụng các biện pháp bảo vệ mái taluy phòng chống sạt lở là hết sức cần thiết và quan trọng. Đã có nhiều giải pháp bảo bệ, chống sạt lở taluy đã được áp dụng như xây tường chắn BTCT, phủ mái taly bằng phun bê tông, ốp mái taluy để bảo vệ bề mặt.
  • Một số vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học lĩnh vực tài nguyên nước 

    Một số vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học lĩnh vực tài nguyên nước 

    Đảng và Nhà nước đã sớm quan tâm tới việc đào tạo, phát triển đội ngũ trí thức. Đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu đa dạng, đa tầng của công nghệ và trình độ phát triển của các lĩnh vực, ngành nghề, trong đó có lĩnh vực khoa học tài nguyên nước (TNN) đang là nhu cầu cấp thiết
  • Đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường các hồ cấp nước sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu 

    Đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường các hồ cấp nước sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu 

    Các hồ cấp nước sinh hoạt (HCNSH) trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (BR-VT) có vai trò quan trọng trong việc cung cấp nước cho các hoạt động dân sinh, các ngành sản xuất công nghiệp, cũng như lượng nước tưới tiêu canh tác nông nghiệp trên địa bàn toàn tỉnh. Do đó, việc đánh giá chất lượng nước (CLN) tại các lưu vực hồ (LVH) chứa, cũng như điều tra đánh giá các nguồn thải có khả năng gây ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nước, từ đó đề xuất các giải pháp khả thi để bảo vệ môi trường (BVMT) lưu vực (LV) các hồ chứa nước là công việc cần thiết cấp bách.
  • Nguồn hình thành trữ lượng nước dưới đất vùng đồng bằng tỉnh Hà Tĩnh

    Nguồn hình thành trữ lượng nước dưới đất vùng đồng bằng tỉnh Hà Tĩnh

    Hà Tĩnh là một tỉnh ven biển thuộc vùng Bắc Trung Bộ Việt Nam. Trong vùng này, nước phục vụ cho các hoạt động được khai thác chủ yếu từ nước dưới đất trong các tầng chứa nước trầm tích bở rời Pleistocen và Holocen vùng đồng bằng tỉnh Hà Tĩnh. Bằng phương pháp mô hình số xác định được trữ lượng khai thác tiềm năng (Tiềm năng nước dưới đất) trong các tầng chứa nước này là 288.990 m3/ngày.
  • Tài nguyên du lịch tự nhiên tỉnh Bắc Kạn

    Tài nguyên du lịch tự nhiên tỉnh Bắc Kạn

    Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm cảnh quan thiên nhiên, các yếu tố địa chất, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái và các yếu tố tự nhiên khác có thể được sử dụng cho mục đích du lịch. Sự kết hợp giữa các hoạt động nội sinh và ngoại sinh đã tạo nên cho tỉnh Bắc Kạn các nguồn tài nguyên du lịch rất phong phú đa dạng. Trên cơ sở các kết quả khảo sát thực tế, tham khảo và tổng hợp tài liệu, bài báo phân tích và mô tả các nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên tỉnh Bắc Kạn. Hiện đã ghi nhận được 141 điểm tài nguyên du lịch tự nhiên tại tỉnh bao gồm 40 điểm tài nguyên hang động karts, 40 thác nước, 10 hồ sinh thái, 3 khu bảo tồn thiên nhiên, 46 điểm cảnh quan đẹp, 2 khu vực có tiềm năng di sản địa chất. Phần lớn các tài nguyên du lịch tự nhiên có điều kiện giao thông thuận lợi để khai thác, bảo vệ và phát triển, đây là các điều kiện quan trọng để phát triển du lịch tỉnh Bắc Kạn.
  • Nghiên cứu khả năng xử lý, thu hồi một số kim loại trong tấm pin mặt trời thải 

    Nghiên cứu khả năng xử lý, thu hồi một số kim loại trong tấm pin mặt trời thải 

    Hiệu suất thu hồi kim loại của các tấm pin mặt trời thải bằng chất hòa tách kim loại HNO3 đã được nghiên cứu. Pin mặt trời thải có chứa khoảng 1% các kim loại bao gồm: Al, Cu, Ag, Pb, Antimon, Zn, Sn,… Tuy giá trị kinh tế của việc thu hồi không cao nhưng đem lại giá trị về mặt môi trường rất lớn. Các nghiên cứu được thực hiện bằng cách thay đổi nồng độ HNO3, thời gian hòa tách, nhiệt độ hòa tách và tỷ lệ giữa chất rắn/chất lỏng (trọng lượng/thể tích) để tìm ra được điều kiện thực nghiệm tối ưu. Điều kiện tối ưu để đạt được hiệu suất thu hồi Ag, Pb và Cu là: nồng độ HNO3 5M, thời gian hòa tách 180 phút, nhiệt độ hòa tách 60oC, tỷ lệ chất rắn/chất lỏng (trọng lượng/thể tích) là 1/30 (g/ml).
  • Ứng dụng tư liệu viễn thám và các công nghệ mới trong thành lập bản đồ nguy cơ trượt lở đất: Áp dụng tại tỉnh Quảng Bình

    Ứng dụng tư liệu viễn thám và các công nghệ mới trong thành lập bản đồ nguy cơ trượt lở đất: Áp dụng tại tỉnh Quảng Bình

    Bản đồ dự báo nguy cơ trượt lở là một công cụ hữu ích trong việc đánh giá, dự báo và quản lý nguy cơ trượt lở đất. Nghiên cứu này so sánh độ chính xác của các thuật toán học máy trong việc thành lập bản đồ nguy cơ trượt lở tỉnh Quảng Bình, được mô hình hóa dựa trên 267 điểm thực địa và 8 yếu tố ảnh hưởng bao gồm: Độ cao, độ dốc, hướng dốc, lượng mưa, đất, khoảng cách tới đới đứt gãy, chỉ số thực vật chuẩn hóa (NDVI), và chỉ số nước chuẩn hóa (NDWI). Dựa trên đường cong Receiver Operating Characteristic (ROC) và chỉ số Area Under the Curve (AUC), kết quả cho thấy, mô hình cây quyết định Random Forest (RF) có độ chính xác cao nhất với AUC = 0,795, tiếp theo là mô hình Gradient Tree Boost (GTB) với AUC = 0.789, và cuối cùng là mô hình Classification And Regression Tree (CART) với AUC = 0,706. Các thuật toán học máy cho phép tối ưu hóa mô hình dự báo trượt lở đất dựa trên dữ liệu thực địa và điều kiện địa hình, khí hậu, lớp phủ của khu vực nghiên cứu. Nghiên cứu hỗ trợ ra quyết định cảnh b
  • Cảnh báo sớm nguồn nước mặt mùa cạn vào vùng Đồng bằng sông Cửu Long bằng mô hình mạng long short term memory 

    Cảnh báo sớm nguồn nước mặt mùa cạn vào vùng Đồng bằng sông Cửu Long bằng mô hình mạng long short term memory 

    Mô hình Bộ nhớ gần xa (Long Short-Term Memory - LSTM) được sử dụng để cảnh báo tổng lượng nước mùa cạn vào vùng Đồng bằng sông Cửu Long mà không cần các số liệu địa hình và dự báo mưa. Dữ liệu cần thiết cho việc cảnh báo sớm tổng lượng là lượng nước theo tháng tại các trạm Kratie, Tân Châu và Châu Đốc. Mô hình được thiết lập để dự báo tổng lượng nước đến cho trạm Kratie, Tân Châu và Châu Đốc với thời đoạn cảnh báo 6 tháng. Kết quả cho thấy, mô hình LSTM mà các tác giả đề xuất dự báo chính xác về tổng lượng nước khá cao, có thể áp dụng mô hình này để cảnh báo sớm nguồn lượng nước mùa cạn vào vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
  • Ứng dụng kỹ thuật CFP trong phân nhóm tài nguyên phục vụ với cách tiếp cận bằng giải thuật di truyền

    Ứng dụng kỹ thuật CFP trong phân nhóm tài nguyên phục vụ với cách tiếp cận bằng giải thuật di truyền

    Phân nhóm tài nguyên phục vụ để đáp ứng các nguồn lực được bố trí tối đa không bị lãng phí là vấn đề thử thách ngày càng lớn hiện nay. Bài báo viết về một kỹ thuật AI trong phân nhóm, đó là kỹ thuật CFP (cell formation problem). Kỹ thuật CFP được áp dụng nhiều trong các ứng dụng thực tế. Cụ thể hơn là trên các lĩnh vực cần tối ưu và hợp lý hóa để đảm bảo các phân hoạch khi thực hiện việc phân bổ như sử dụng nhân lực, thiết bị và tài nguyên trong y tế, môi trường; khi chăm sóc khách hàng, xử lý các tình huống khẩn cấp,... Theo đó, nghiên cứu đề cập đến phương pháp giải bài toán CFP với giải thuật di truyền trên tập dữ liệu mẫu khi quản lý tài nguyên.
  • Ứng dụng công nghệ 3S trong nghiên cứu môi trường và dự báo thiên tai

    Ứng dụng công nghệ 3S trong nghiên cứu môi trường và dự báo thiên tai

    Sự nóng lên toàn cầu cùng với các hoạt động của con người đã và đang góp phần làm cho môi trường nhanh chóng suy thoái, giảm diện tích sông băng và tăng kích thước các hồ băng. Các khu vực đạt lượng mưa chưa từng có, thay đổi việc sử dụng đất và độ che phủ đất gây ảnh hưởng đến sự suy thoái rừng, lũ lụt, sạt lở đất và sự thiếu hụt cây trồng nông nghiệp là một trong nhiều vấn đề thay đổi môi trường gây ra. Những vấn đề này cần được theo dõi và giám sát kịp thời. Trong đó, việc giám sát môi trường hiệu quả và nâng cao hiểu biết về môi trường đòi hỏi thông tin và dữ liệu có giá trị, được trích xuất thông qua các ứng dụng của công nghệ 3S. 
  • Đánh giá các phương pháp phân tách vi nhựa trong nước mặt, áp dụng cho sông Nhuệ, sông Đáy

    Đánh giá các phương pháp phân tách vi nhựa trong nước mặt, áp dụng cho sông Nhuệ, sông Đáy

    Vấn đề vi nhựa đã được các nhà khoa học đặt ra từ những năm 70s của thế kỷ trước, tuy nhiên, đa phần các nghiên cứu hiện nay chỉ tập trung vào phân tích vi nhựa trên biển, các phương pháp phân tách cho thủy vực trên bờ chưa được chú trọng. Trong nghiên cứu này, 4 nhóm phương pháp phân tách và loại bỏ chất hữu cơ cho vi nhựa đã được xem xét. Các kết quả thu được cho thấy, nhựa PVC có khả năng phân tách kém nhất trong 4 loại nhựa được thử nghiệm, chỉ phân tách hiệu quả khi sử dụng ZnCl2. Bên cạnh đó, kết quả phân tích FTIR đối với các vi nhựa từ nước thải cho thấy, quá trình oxi hóa bằng Fenton cho phổ đồ sạch hơn so với phương pháp H2O2. Đồng thời, để phân tách và đánh giá tính chất của vi nhựa được thu hồi từ các nguồn nước sông bị ô nhiễm chất hữu cơ, phương pháp được đề xuất là sử dụng Fenton cho quá trình loại bỏ hữu cơ và phân tách bằng ZnCl2 nhằm thu hồi vi nhựa.