Trên những bản làng miền núi Thanh Hóa, hành trình giảm nghèo đang được đo đếm không chỉ bằng tỷ lệ phần trăm hay báo cáo tổng kết, mà bằng những mái nhà kiên cố, mô hình sinh kế bền vững và sự đổi thay trong tư duy của người dân. Từ xóa nhà tạm đến phát triển sản xuất, các chính sách đang dần đi vào chiều sâu, tạo nền tảng vững chắc cho vùng nông thôn vươn lên.
Từ mái nhà kiên cố đến sinh kế lâu dài
Ở nhiều xã miền núi Thanh Hóa, hình ảnh những căn nhà sàn bê tông mới dựng lên giữa sườn đồi không chỉ mang ý nghĩa che mưa, che nắng. Đó là biểu tượng cho sự ổn định – yếu tố đầu tiên để người nghèo có thể tính chuyện làm ăn lâu dài. Thống kê cho thấy, toàn tỉnh đã hỗ trợ xây dựng và sửa chữa nhà ở cho 10.127 hộ nghèo và cận nghèo, một con số đặc biệt lớn nếu đặt trong bối cảnh nhiều địa phương miền núi vẫn còn thiếu hạ tầng cơ bản.
Cùng với việc “an cư”, Thanh Hóa cũng ghi nhận bước tiến rõ rệt trong công tác giảm nghèo. Tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh hiện giảm còn 1,52%, dự kiến xuống 0,52% vào cuối năm – mức giảm nhanh hơn nhiều so với bình quân các giai đoạn trước. Đằng sau mỗi phần trăm ấy là hàng nghìn gia đình đã thoát khỏi tình trạng thiếu ăn, thiếu mặc, có thêm cơ hội tiếp cận dịch vụ y tế, giáo dục và sinh kế ổn định.
Điểm khác biệt của giai đoạn hiện nay là cách làm không còn dừng ở hỗ trợ mang tính cứu trợ. Các chính sách giảm nghèo được “thiết kế” chi tiết tới từng thôn, bản. Từ hướng dẫn kỹ thuật sản xuất, tập huấn chăn nuôi an toàn sinh học đến hỗ trợ giống, vốn, dụng cụ sản xuất, tất cả đều gắn với điều kiện thực tế của từng địa bàn.
Sau đợt dịch tả lợn châu Phi khiến 61.555 con lợn buộc phải tiêu hủy, nhiều hộ nghèo từng phụ thuộc vào chăn nuôi nhỏ lẻ đã đứng trước nguy cơ tái nghèo. Thay vì quay lại mô hình cũ, họ được hướng dẫn chuyển đổi sang các hướng sản xuất mới: trồng cây lâu năm, cây dược liệu dưới tán rừng, nuôi gia cầm theo hướng an toàn hoặc tham gia tổ hợp tác để giảm rủi ro thị trường.
Song song với hỗ trợ sản xuất, tỉnh cũng ban hành kế hoạch giám sát, đánh giá thường xuyên các chương trình giảm nghèo. Nguồn lực được rà soát kỹ, phân bổ đúng đối tượng, tránh đầu tư dàn trải hay hình thức. Nhờ đó, mỗi căn nhà, mỗi mô hình sinh kế đều tạo ra tác động thực chất, giúp người dân từng bước tự chủ kinh tế.
Quan trọng hơn, tư duy của người dân đang thay đổi rõ rệt. Ngày càng nhiều hộ nghèo chủ động đăng ký tham gia các mô hình sinh kế, mạnh dạn vay vốn, học nghề mới. Hỗ trợ của Nhà nước không còn được nhìn như “cái phao” cứu nguy tạm thời, mà trở thành đòn bẩy để họ tự vươn lên.
Nông thôn mới – sức bật từ sự đồng lòng của cộng đồng
Giảm nghèo bền vững ở Thanh Hóa không tách rời phong trào xây dựng nông thôn mới. Từ đồng bằng ven biển đến các xã vùng cao, diện mạo nông thôn đang thay đổi từng ngày, với trọng tâm là cải thiện hạ tầng và nâng cao chất lượng sống.
Hệ thống nước sạch nông thôn đạt 98,35% dân số nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh, trong đó gần 65% dùng nước sạch đạt chuẩn Bộ Y tế. Ở những nơi từng phải “ăn đong” từng can nước vào mùa khô, các công trình cấp nước tập trung đã trở thành điểm tựa cho sinh hoạt và sản xuất.
Tại các xã nông thôn mới nâng cao, đường giao thông liên thôn – liên xã được mở rộng, kiên cố hóa; hệ thống đê điều, kênh mương được duy tu thường xuyên. Toàn tỉnh cũng đã rà soát 57 hồ chứa có nguy cơ mất an toàn, từ đó triển khai các biện pháp phòng chống thiên tai, giúp người dân yên tâm sản xuất trong mùa mưa lũ.
Một điểm sáng khác là phong trào OCOP – động lực mới cho kinh tế nông thôn. Thanh Hóa hiện có 661 sản phẩm OCOP được công nhận, trong đó có 2 sản phẩm 5 sao là nước mắm và mắm tôm Lê Gia. Hơn 600 sản phẩm 3 sao từ các làng quê đã giúp hàng trăm hợp tác xã, hộ kinh doanh mở rộng sản xuất, nâng cao giá trị nông sản địa phương.
Nhiều địa phương còn tổ chức các phiên chợ nông sản, kết nối trực tiếp người sản xuất với người tiêu dùng. Điển hình như phiên chợ OCOP với 50 gian hàng tại Hoằng Hóa, thu hút đông đảo người dân và du khách, góp phần quảng bá sản phẩm và tạo thêm thu nhập cho nông dân.
Cùng với phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường ngày càng được coi trọng. Tỷ lệ thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt đạt 92,8%, vượt kế hoạch đề ra. Các dự án trọng điểm như Nhà máy xử lý rác Đông Nam và Nhà máy đốt rác Bỉm Sơn đang được đẩy nhanh tiến độ, hướng tới vận hành đồng bộ vào cuối năm.
Ở nhiều thôn, bản, việc giữ gìn môi trường không còn là phong trào mang tính vận động, mà trở thành thói quen. Người dân tự giác dọn vệ sinh đường làng, trồng hoa ven đường, phân loại rác tại hộ gia đình. Chính sự đồng lòng ấy tạo nên “nguồn vốn xã hội” bền vững nhất cho nông thôn mới.
Không chỉ thay đổi diện mạo, nông thôn mới còn mở ra không gian phát triển sản xuất rộng lớn. Toàn tỉnh hiện có 1.612 doanh nghiệp nông nghiệp, 789 hợp tác xã và hơn 1.074 trang trại quy mô vừa và lớn, hình thành mạng lưới sản xuất – tiêu thụ ngày càng hoàn chỉnh. Đây là nền tảng quan trọng để các xã đạt chuẩn nông thôn mới không chỉ “về đích”, mà còn giữ vững và nâng chất các tiêu chí.
Theo lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường Thanh Hóa, giảm nghèo bền vững và xây dựng nông thôn mới là hành trình dài, đòi hỏi sự kiên trì của chính quyền và nỗ lực tự thân của người dân. Những con số về tỷ lệ nghèo giảm mạnh hay hàng trăm sản phẩm OCOP chỉ là phần nổi. Điều cốt lõi là niềm tin đã được khơi dậy, tinh thần làm chủ của cộng đồng nông thôn ngày càng rõ nét.
Thanh Hóa đang đi trên con đường phát triển bền vững – nơi mỗi thôn bản đều có cơ hội “đổi màu”, mỗi gia đình đều có cơ hội vươn lên, và mỗi chính sách đều được cụ thể hóa bằng những đổi thay thực chất trong đời sống người dân.