Hơn 40 năm vận hành, nhiều công trình thủy lợi trên địa bàn do Công ty TNHH MTV Đầu tư phát triển Thủy lợi Sông Đáy (Hà Nội) quản lý đang đối mặt với tình trạng xuống cấp, thiếu đồng bộ, trong khi áp lực từ đô thị hóa, công nghiệp hóa và ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng. Không chỉ đảm bảo tưới tiêu cho hàng chục nghìn héc-ta đất nông nghiệp, đơn vị còn phải giải quyết hàng nghìn vụ vi phạm hành lang công trình, xử lý tình trạng xả rác, nước thải và từng bước triển khai cơ chế thu phí tiêu thoát nước đối với các khu công nghiệp.
LTS: Từ bao đời nay, thủy lợi đã gắn bó mật thiết với đời sống người dân khu vực phía Bắc Việt Nam. Những con đê trầm mặc chạy dài bên bờ Sông Hồng, những kênh mương len lỏi giữa cánh đồng lúa, những hồ chứa nước nằm yên bình giữa núi rừng,… tất cả tạo nên một Hệ thống “mạch máu” nuôi dưỡng sản xuất nông nghiệp, bảo đảm sinh kế cho hàng chục triệu người dân.
Bước sang thời kỳ đổi mới và hội nhập, thủy lợi không chỉ dừng ở nhiệm vụ cung cấp nước tưới tiêu, tiêu thoát lũ mà còn giữ vai trò trọng yếu trong điều tiết nguồn nước, phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, trước áp lực dân số gia tăng, nhu cầu phát triển công nghiệp và đô thị, cùng những tác động ngày càng khốc liệt của thời tiết cực đoan, các Hệ thống công trình thủy lợi miền Bắc đang đứng trước nhiều thách thức lớn như tình trạng lấn chiếm các công trình thuỷ lợi; vấn nạn xả thải rác thải, chất thải xuống các tuyến kênh mương; ô nhiễm nguồn nước từ các hoạt động sản xuất công nghiệp và dân sinh chưa được xử lý; mực nước các dòng sông và hồ đập xuống thấp vào mùa khô do biến đổi khí hậu; diện tích tưới ngày càng thu hẹp trong khi hệ số tiêu ngày càng tăng lên. Đặc biệt là cơ chế giá dịch vụ thủy lợi còn nhiều bất cập, chưa phản ánh đúng chi phí thực tế của hoạt động thuỷ nông đã ảnh hưởng không nhỏ đến công tác quản lý và vận hành các Hệ thống công trình thuỷ lợi ở miền Bắc,…
Tuyến bài “Hệ thống công trình thủy lợi miền Bắc trước thách thức mới” sẽ đưa bạn đọc đi sâu tìm hiểu thực trạng, những thành tựu và tồn tại, khó khăn của các Hệ thống thủy lợi ở vùng đồng bằng Sông Hồng, trung du và miền núi phía Bắc; lắng nghe tiếng nói từ cơ sở, các nhà quản lý, chuyên gia; đồng thời cùng bàn giải pháp để quản lý và vận hành hiệu quả Hệ thống các công trình thuỷ lợi nhằm phục vụ cho phát triển kinh tế và dân sinh, thích ứng với biến đổi khí hậu.
Nhiều công trình sau hơn 40 năm khai thác đã quá tải
Ông Trần Đình Cường, Chủ tịch Công ty TNHH MTV Đầu tư phát triển Thủy lợi Sông Đáy (Công ty) cho biết, hiện đơn vị được giao quản lý 4 hồ chứa với tổng dung tích gần 30 triệu m³, 177 trạm bơm gồm 733 máy bơm các loại, 581 tuyến kênh dài khoảng 952 km cùng gần 6.800 công trình trên kênh.
Mặc dù hằng năm thành phố Hà Nội đều bố trí nguồn kinh phí để sửa chữa, cải tạo hệ thống thủy lợi, song nhiều công trình được xây dựng từ những năm 1980 đến nay vẫn chưa được đầu tư nâng cấp đồng bộ. Sau hơn bốn thập kỷ khai thác liên tục, nhiều hạng mục đã xuống cấp, không còn đáp ứng yêu cầu sản xuất cũng như nhiệm vụ tiêu úng trong bối cảnh biến đổi khí hậu.
Đáng chú ý, nhiều trạm bơm tiêu hiện chỉ đạt từ 33-81% công suất theo quy hoạch. Trong khi hệ số tiêu thiết kế đối với đất nông nghiệp khoảng 9 lít/giây/ha thì thực tế nhiều khu vực vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu, dẫn đến nguy cơ úng ngập khi xảy ra mưa lớn.
Địa hình vùng quản lý chủ yếu là đồi gò xen kẽ khiến việc đưa nước đến đồng ruộng phải qua nhiều cấp bơm, làm tăng chi phí vận hành, tiêu hao điện năng và kéo dài thời gian cấp nước.
Bên cạnh khó khăn về hạ tầng, công tác quản lý công trình cũng gặp nhiều vướng mắc do nguồn kinh phí chưa đáp ứng yêu cầu thực tế. Một số nhiệm vụ theo quy định của Luật Thủy lợi như cắm mốc chỉ giới bảo vệ công trình, xây dựng quy trình vận hành... vẫn chưa được triển khai đầy đủ.
Ngoài ra, việc chưa được tính khấu hao tài sản cố định trực tiếp phục vụ sản xuất vào giá sản phẩm dịch vụ công ích thủy lợi cũng ảnh hưởng đáng kể đến nguồn lực tái đầu tư, sửa chữa công trình.
Sự phát triển nhanh của các khu đô thị, khu công nghiệp cũng khiến nhiều tuyến kênh bị chia cắt, thay đổi dòng chảy, gây khó khăn cho việc vận hành hệ thống.
Quy mô hệ thống thủy lợi Sông Đáy, gồm: 04 hồ chứa nước với tổng dung tích gần 29,8 triệu m³; 177 trạm bơm; 733 máy bơm; 581 tuyến kênh dài khoảng 952 km; 6.781 công trình trên kênh.
Gần 2.900 vụ vi phạm hành lang công trình chưa được xử lý dứt điểm
Một trong những khó khăn lớn nhất hiện nay là tình trạng lấn chiếm phạm vi bảo vệ công trình thủy lợi. Theo thống kê của Công ty, đến nay vẫn còn tồn đọng 2.897 vụ vi phạm trên toàn hệ thống. Riêng năm 2025 phát sinh thêm 67 vụ, song mới giải tỏa được 23 vụ.
Các vi phạm chủ yếu xảy ra tại khu vực vùng ven đô, nơi tốc độ đô thị hóa diễn ra nhanh hoặc những địa bàn vùng sâu, khó tiếp cận. Theo quy định hiện hành, Công ty có trách nhiệm thường xuyên kiểm tra, phát hiện, ngăn chặn bước đầu, lập biên bản xác định hành vi vi phạm và chuyển hồ sơ cho UBND cấp xã xử lý theo thẩm quyền.
Thời gian qua, việc xử lý được thực hiện theo các hướng dẫn của Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Hà Nội cũng như Quy chế phối hợp do UBND thành phố ban hành. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, đặc biệt là sự phối hợp chưa thật quyết liệt ở một số địa phương, nhiều vụ việc vẫn kéo dài nhiều năm.
Theo đánh giá của Công ty, bên cạnh áp lực quản lý, ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận người dân vẫn còn hạn chế, khiến tình trạng xây dựng, lấn chiếm trong hành lang bảo vệ công trình tiếp tục tái diễn.
Con số đáng chú ý trên Hệ thống công trình thuỷ lượi Sông Đáy: 2.897 vụ vi phạm hành lang công trình còn tồn đọng; năm 2025 phát sinh 67 vụ và mới xử lý, giải tỏa được 23 vụ.
Ô nhiễm kênh mương ngày càng nghiêm trọng
Nếu như lấn chiếm hành lang là bài toán về quản lý đất đai thì tình trạng xả rác, nước thải vào hệ thống thủy lợi lại là áp lực thường trực đối với đơn vị quản lý.
Cũng theo ông Trần Đình Cường, rác thải sinh hoạt hiện tập trung nhiều tại các tuyến kênh đi qua khu dân cư. Mặc dù hầu hết các xã, phường đều đã bố trí điểm tập kết và đơn vị thu gom rác, vẫn còn không ít người dân cố tình đổ rác xuống lòng kênh. Đơn vị đã lắp đặt biển cấm, biển cảnh báo, tăng cường tuyên truyền nhưng hiệu quả chưa như mong muốn.
Đối với nước thải, hiện trên toàn hệ thống có 295 điểm xả. Công tác kiểm tra hiện chủ yếu dựa trên việc quan sát trực tiếp màu sắc và mùi nước, chưa có thiết bị chuyên dụng để đánh giá mức độ ô nhiễm hoặc xác định chất lượng nước sau xử lý.
Trong khi đó, nhiều nhà máy, cơ sở sản xuất nằm trong khu dân cư lại xả nước vào hệ thống thoát nước nội đồng trước khi chảy vào công trình thủy lợi, khiến việc xác định nguồn gây ô nhiễm gặp nhiều khó khăn.
Cũng theo ông Trần Đình Cường, để giải quyết tình trạng này cần đồng thời thực hiện nhiều giải pháp như tăng cường kiểm tra, phát hiện và xử lý các trường hợp vi phạm; tiếp tục lắp đặt biển cảnh báo; kiến nghị quy hoạch đồng bộ hệ thống thu gom và xử lý nước thải tại các khu công nghiệp, làng nghề; nạo vét khơi thông dòng chảy và vận hành cấp nước hợp lý nhằm giảm nồng độ ô nhiễm.
Đặc biệt, Công ty kiến nghị các cơ quan chức năng kiên quyết xử lý các trường hợp xả nước thải vào công trình thủy lợi không đúng quy định.
Giải pháp được Công ty TNHH MTV Đầu tư phát triển Thủy lợi Sông Đáy đề xuất: kiểm tra thường xuyên các tuyến kênh; lắp đặt thêm biển cấm xả rác; quy hoạch hệ thống thu gom, xử lý nước thải tập trung; nạo vét, khơi thông dòng chảy; tăng cường xử phạt các trường hợp vi phạm.
Thu phí tiêu thoát nước khu công nghiệp còn nhiều vướng mắc
Thực hiện quy định mới của UBND thành phố Hà Nội về thu giá dịch vụ thủy lợi khác, Công ty TNHH MTV Đầu tư phát triển Thủy lợi Sông Đáy đã rà soát toàn bộ các khu, cụm công nghiệp thuộc phạm vi quản lý.
Qua thống kê có 52 khu, cụm công nghiệp với tổng diện tích khoảng 2.355,4 ha thuộc diện phải ký hợp đồng sử dụng dịch vụ tiêu thoát nước. Tuy nhiên, đến nay mới chỉ có 3 đơn vị ký hợp đồng, còn 49 đơn vị vẫn chưa hoàn tất.
Theo ông Trần Đình Cường, nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc các bên chưa thống nhất diện tích phải tính phí. Nhiều chủ đầu tư chỉ đề nghị tính trên phần diện tích đang sản xuất kinh doanh, không bao gồm đường giao thông, cây xanh, hồ điều hòa hoặc diện tích chưa có doanh nghiệp thuê đất.
Một số cụm công nghiệp cũng cho rằng quy định hiện hành chưa làm rõ đối tượng áp dụng đối với mô hình cụm công nghiệp.
Ngoài ra, nhiều khu công nghiệp mới hoàn thiện hạ tầng, chưa lấp đầy nên đề nghị chỉ ký hợp đồng khi có doanh nghiệp hoạt động hoặc đạt tỷ lệ lấp đầy cao.
Đối với những cụm công nghiệp mà Nhà nước cho doanh nghiệp thuê đất trực tiếp, chủ đầu tư hạ tầng cho rằng mình không phải đơn vị trực tiếp sử dụng đất nên không phát sinh nghĩa vụ sử dụng dịch vụ tiêu thoát nước.
Tuy nhiên, để hệ thống thủy lợi phát huy hiệu quả lâu dài, cần tiếp tục đầu tư nâng cấp công trình, hoàn thiện cơ chế tài chính, tăng cường sự phối hợp của chính quyền địa phương trong xử lý vi phạm, đồng thời nâng cao ý thức cộng đồng nhằm bảo vệ hệ thống công trình thủy lợi - hạ tầng thiết yếu phục vụ sản xuất, dân sinh và phòng chống thiên tai trên địa bàn thủ đô Hà Nôi, ông Trần Đình Cường nhấn mạnh thêm.
>>>>>> Xin vui lòng xem thêm:
- Bài 17: Hệ thống thủy lợi Nam Ninh: Kẹt giữa hai “gọng kìm” hạ tầng và cơ chế
- Bài 16: Lạng Sơn - Giữ “mạch nước” giữa miền núi: Áp lực từ công trình già cỗi đến nút thắt cơ chế
- Bài 15: Ninh Bình: Hệ thống thuỷ lợi Vụ Bản trước áp lực kép thiên tai và xuống cấp hạ tầng
- Bài 14: Bắc Ninh - Hệ thống công trình thủy lợi trước áp lực xuống cấp và quá tải
- Bài 13: Lào Cai - Giữ "nhịp nước" cho gần 50.000 ha đồng ruộng
- Bài 12: Hệ thống thủy lợi Nam Thái Bình - Chủ động thích ứng, đảm bảo an ninh nguồn nước