Giữa địa hình đồi núi chia cắt của Lạng Sơn, những dòng kênh mương vẫn ngày đêm dẫn nước về ruộng đồng, nuôi sống hàng chục nghìn hộ dân. Nhưng phía sau sự vận hành tưởng như ổn định ấy là một hệ thống công trình đã già cỗi, những vi phạm hành lang kéo dài và cơ chế tài chính chưa theo kịp thực tế. Tất cả đang tạo nên áp lực ngày càng lớn đối với ngành thủy lợi địa phương.
LTS: Từ bao đời nay, thủy lợi đã gắn bó mật thiết với đời sống người dân khu vực phía Bắc Việt Nam. Những con đê trầm mặc chạy dài bên bờ Sông Hồng, những kênh mương len lỏi giữa cánh đồng lúa, những hồ chứa nước nằm yên bình giữa núi rừng,… tất cả tạo nên một Hệ thống “mạch máu” nuôi dưỡng sản xuất nông nghiệp, bảo đảm sinh kế cho hàng chục triệu người dân.
Bước sang thời kỳ đổi mới và hội nhập, thủy lợi không chỉ dừng ở nhiệm vụ cung cấp nước tưới tiêu, tiêu thoát lũ mà còn giữ vai trò trọng yếu trong điều tiết nguồn nước, phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, trước áp lực dân số gia tăng, nhu cầu phát triển công nghiệp và đô thị, cùng những tác động ngày càng khốc liệt của thời tiết cực đoan, các Hệ thống công trình thủy lợi miền Bắc đang đứng trước nhiều thách thức lớn như tình trạng lấn chiếm các công trình thuỷ lợi; vấn nạn xả thải rác thải, chất thải xuống các tuyến kênh mương; ô nhiễm nguồn nước từ các hoạt động sản xuất công nghiệp và dân sinh chưa được xử lý; mực nước các dòng sông và hồ đập xuống thấp vào mùa khô do biến đổi khí hậu; diện tích tưới ngày càng thu hẹp trong khi hệ số tiêu ngày càng tăng lên. Đặc biệt là cơ chế giá dịch vụ thủy lợi còn nhiều bất cập, chưa phản ánh đúng chi phí thực tế của hoạt động thuỷ nông đã ảnh hưởng không nhỏ đến công tác quản lý và vận hành các Hệ thống công trình thuỷ lợi ở miền Bắc,…
Tuyến bài “Hệ thống công trình thủy lợi miền Bắc trước thách thức mới” sẽ đưa bạn đọc đi sâu tìm hiểu thực trạng, những thành tựu và tồn tại, khó khăn của các Hệ thống thủy lợi ở vùng đồng bằng Sông Hồng, trung du và miền núi phía Bắc; lắng nghe tiếng nói từ cơ sở, các nhà quản lý, chuyên gia; đồng thời cùng bàn giải pháp để quản lý và vận hành hiệu quả Hệ thống các công trình thuỷ lợi nhằm phục vụ cho phát triển kinh tế và dân sinh, thích ứng với biến đổi khí hậu.
Những “mạch nước” bền bỉ giữa vùng cao
Một buổi sáng cuối thu, sương vẫn còn giăng kín những triền núi ở Lạng Sơn. Dưới chân núi, những thửa ruộng bắt đầu vào vụ, nước từ các tuyến kênh mương lặng lẽ chảy về, len qua từng bờ ruộng. Dòng nước ấy không chỉ nuôi cây lúa mà còn giữ nhịp sống cho cả một vùng quê.
Đằng sau sự vận hành âm thầm đó là hệ thống công trình thủy lợi do Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Lạng Sơn (Công ty) quản lý. Với 106 hồ chứa, 195 đập dâng, 74 trạm bơm điện và hơn 1.050 km kênh mương, hệ thống này đóng vai trò như “mạch máu” cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt trên toàn tỉnh Lạng Sơn.
Trong nhiều năm qua, nhờ các chương trình đầu tư như kiên cố hóa kênh mương hay sửa chữa, nâng cấp hồ chứa, năng lực tưới tiêu của hệ thống từng bước được cải thiện. Nhiều công trình được gia cố, nâng cấp đã góp phần đảm bảo cấp nước ổn định cho các vụ sản xuất chính.
Tuy nhiên, theo thời gian, những dấu hiệu xuống cấp ngày càng rõ rệt. Phần lớn công trình được xây dựng từ 30–50 năm trước, nhiều hạng mục đã quá niên hạn sử dụng.
Những đoạn kênh nứt vỡ, rò rỉ nước; những tràn xả lũ hoen gỉ; hay các tuyến mương bị bồi lấp sau mỗi mùa mưa lũ… đang dần làm giảm hiệu quả vận hành của toàn hệ thống.
Ông Liễu Văn Thông – Phó Tổng Giám đốc Công ty cho biết: “Hiện nay, nhiều công trình đã xuống cấp, thiếu đồng bộ, gây thất thoát nước. Trong khi đó, nhu cầu sử dụng nước ngày càng tăng, đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng và phát triển kinh tế”.
Không chỉ chịu tác động của thời gian, hệ thống thủy lợi còn phải “gồng mình” trước những diễn biến bất thường của thời tiết. Những trận mưa lớn cục bộ, lũ quét hay hạn hán kéo dài khiến việc điều tiết nước trở nên khó khăn hơn, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn công trình.
Hệ thống thủy lợi Lạng Sơn có 106 hồ chứa nước; 195 đập dâng; 74 trạm bơm điện; trên 1.050 km kênh mương, đảm bảo cấp nước cho sản xuất nông nghiệp và dân sinh trên toàn tỉnh Lạng Sơn.
Khi hành lang công trình bị “xâm lấn”
Nếu như sự xuống cấp là vấn đề mang tính thời gian, thì tình trạng vi phạm hành lang công trình lại là câu chuyện của ý thức và quản lý.
Dọc theo nhiều tuyến kênh, không khó để bắt gặp hình ảnh những căn nhà tạm dựng sát mép nước, những bức tường rào lấn ra lòng kênh hay các đường ống xả thải trực tiếp xuống dòng chảy. Những hành vi tưởng chừng nhỏ lẻ này lại đang âm thầm ảnh hưởng đến cả hệ thống.
Tại một số khu vực gần khu dân cư, nước thải sinh hoạt và chăn nuôi xả trực tiếp xuống kênh không chỉ gây ô nhiễm mà còn làm giảm khả năng dẫn nước. Nhiều đoạn kênh bị ách tắc, dòng chảy bị thu hẹp, ảnh hưởng đến việc cấp nước cho hạ du.
Một trong những điểm nóng là khu vực hồ Nà Cáy, nơi tình trạng lấn chiếm đã kéo dài nhiều năm. Dù đã có sự vào cuộc của cơ quan chức năng, việc xử lý vẫn chưa dứt điểm.
Không chỉ dừng lại ở các vi phạm nhỏ lẻ, những tác động từ các dự án hạ tầng lớn cũng đang đặt ra thách thức không nhỏ. Trong quá trình thi công các tuyến cao tốc như Đồng Đăng – Trà Lĩnh hay Chi Lăng – Hữu Nghị, một số công trình thủy lợi đã bị ảnh hưởng.
Có nơi bị san lấp một phần lòng hồ, có nơi đất đá sạt lở xuống kênh mương, làm thay đổi dòng chảy tự nhiên. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến khả năng tưới tiêu mà còn tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn công trình.
Theo ông Liễu Văn Thông: “Đối với các vi phạm nhỏ, chúng tôi có thể phối hợp với địa phương xử lý kịp thời. Nhưng với những vi phạm liên quan đến dự án lớn, việc xử lý rất phức tạp do liên quan đến nhiều bên và tiến độ thi công”.
Thống kê cho thấy, trong năm 2025, toàn hệ thống ghi nhận 37 vụ vi phạm, nhưng mới chỉ xử lý dứt điểm được 11 vụ. Số vụ tồn đọng vẫn còn lớn, nhiều trường hợp kéo dài qua nhiều năm.
Năm 2025, Hệ thống thuỷ lợi Lạng Sơn ghi nhận 37 vụ vi phạm, đã xử lý 11 vụ và chưa xử lý 26 vụ. Trong đó có nhiều vụ kéo dài, gây khó khăn cho công tác quản lý.
“Nút thắt” cơ chế và bài toán kinh phí
Bên cạnh những vấn đề hữu hình, khó khăn lớn nhất hiện nay của hệ thống thủy lợi Lạng Sơn lại nằm ở cơ chế tài chính.
Giá sản phẩm dịch vụ công ích thủy lợi hiện vẫn được giữ nguyên từ năm 2012. Trong khi đó, chi phí vận hành như điện, vật tư, nhân công liên tục tăng theo thời gian.
Điều này khiến nguồn thu không đủ bù chi, đặc biệt tại các khu vực miền núi với địa hình phức tạp, chi phí vận hành lớn. Hệ quả là việc duy tu, sửa chữa công trình gặp nhiều khó khăn.
Không chỉ vậy, thu nhập của người lao động trong ngành thủy lợi cũng bị ảnh hưởng. Trong khi công việc đòi hỏi trực 24/7, đặc biệt trong mùa mưa bão, mức thu nhập lại chưa tương xứng với công sức và trách nhiệm.
Ông Liễu Văn Thông chia sẻ: “Giá dịch vụ thủy lợi hiện nay chưa phản ánh đúng chi phí thực tế. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng duy trì, vận hành và nâng cao chất lượng công trình”.
Bên cạnh đó, cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ vẫn còn nhiều vướng mắc, chưa thực sự phù hợp với mô hình cung cấp dịch vụ. Điều này khiến các đơn vị khai thác công trình thuỷ lợi gặp khó khăn trong việc chủ động tài chính và tổ chức hoạt động.
Một vấn đề khác là việc ứng dụng công nghệ trong quản lý còn hạn chế. Nhiều hồ chứa chưa được lắp đặt hệ thống quan trắc tự động, thiết bị cảnh báo an toàn hay camera giám sát. Điều này khiến việc theo dõi, dự báo và ứng phó với rủi ro còn phụ thuộc nhiều vào phương pháp thủ công.
Những “nút thắt” chính của Hệ thống thuỷ lợi Lạng Sơn, như giá dịch vụ thủy lợi không thay đổi từ năm 2012; chi phí vận hành tăng mạnh; thiếu kinh phí sửa chữa, nâng cấp và hạn chế ứng dụng công nghệ. Những điều này có nguy cơ ảnh hưởng lâu dài đến an toàn và hiệu quả công trình thuỷ lợi.
Giữ dòng chảy bền vững cho tương lai
Dù đối mặt với nhiều khó khăn, Hệ thống thủy lợi Lạng Sơn vẫn đang vận hành ổn định, đảm bảo nguồn nước cho sản xuất và đời sống người dân.
Những cán bộ, công nhân ngành thủy lợi vẫn ngày đêm bám công trình, theo dõi mực nước, vận hành cống, kiểm tra đập… để giữ cho dòng chảy không bị gián đoạn.
Tuy nhiên, để hệ thống này thực sự phát huy hiệu quả lâu dài, cần có những giải pháp đồng bộ từ cơ chế chính sách đến đầu tư hạ tầng.
Trong đó, việc điều chỉnh giá dịch vụ thủy lợi theo hướng tiệm cận chi phí thực tế là một trong những giải pháp quan trọng. Đồng thời, cần tăng cường đầu tư nâng cấp công trình, ứng dụng công nghệ hiện đại và siết chặt quản lý vi phạm hành lang bảo vệ.
“Chúng tôi mong muốn các cơ quan có thẩm quyền sớm điều chỉnh chính sách giá và tăng cường nguồn lực đầu tư, để hệ thống công trình thủy lợi được vận hành ổn định, an toàn và hiệu quả hơn”, ông Liễu Văn Thông nhấn mạnh.
Giữa những biến động của khí hậu và áp lực phát triển, những công trình thủy lợi vẫn là “lá chắn” bảo vệ sản xuất nông nghiệp. Và để những dòng nước tiếp tục chảy bền bỉ, cần những quyết sách kịp thời, phù hợp với thực tiễn – trước khi những “mạch nước” vùng cao trở nên quá tải.
Bài 17: Ninh Bình - Hệ thống thủy lợi Nam Ninh: Kẹt giữa hai “gọng kìm” hạ tầng và cơ chế
>>>>>> Xin vui lòng xem thêm:
- Bài 15: Ninh Bình: Hệ thống thuỷ lợi Vụ Bản trước áp lực kép thiên tai và xuống cấp hạ tầng
- Bài 14: Bắc Ninh - Hệ thống công trình thủy lợi trước áp lực xuống cấp và quá tải
- Bài 12: Hệ thống thủy lợi Nam Thái Bình - Chủ động thích ứng, đảm bảo an ninh nguồn nước
- Bài 11: Hệ thống thuỷ lợi Phú Thọ - Đối mặt với công trình xuống cấp và giá dịch vụ thấp
- Bài 10: Hệ thống thủy lợi Bắc Nam Hà: Áp lực từ cơ chế tài chính và hiện đại hóa trong kỷ nguyên số
- Bài 8: Hệ thống thủy lợi Hưng Yên - Nỗ lực thích ứng trước thách thức mới
- Bài 7: Ô nhiễm nguồn nước tưới ở Xí nghiệp thủy lợi Như Quỳnh
- Bài 6: Hệ thống thủy lợi Bắc Sông Thương - Công trình xuống cấp, cần vốn đầu tư để bảo đảm an toàn
- Bài 5: Hệ thống thuỷ lợi Mỹ Thành - Nhiều kênh mương xuống cấp, đổ vỡ