Ngành dầu khí hướng đến phát triển xanh

Thứ ba, 25/11/2025, 19:22 (GMT+7)
logo Trong bối cảnh thế giới đang bước vào giai đoạn tăng tốc thực hiện các cam kết khí hậu, chuyển đổi xanh đã trở thành yêu cầu sống còn của mọi nền kinh tế. Tại Việt Nam, lộ trình thực hiện cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 đang mở ra những thay đổi sâu sắc trong cơ cấu năng lượng quốc gia. Giữ vai trò nòng cốt đảm bảo an ninh năng lượng, ngành dầu khí Việt Nam đang đứng trước thách thức và cơ hội để chuyển mình hướng tới mô hình phát triển bền vững, phát thải thấp.

Yêu cầu tất yếu của chuyển đổi xanh

Năng lượng đang là trụ cột của tăng trưởng, song cũng là nguồn phát thải lớn nhất. Tại Việt Nam, các đô thị lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng hay Đà Nẵng đang phải đối mặt với áp lực dân số, ô nhiễm không khí và nhu cầu năng lượng ngày càng tăng. Theo thống kê, khu vực đô thị trên thế giới tiêu thụ tới 70% tổng năng lượng toàn cầu, với tốc độ tăng trung bình 7–10% mỗi năm, chủ yếu từ nhiên liệu hóa thạch.

Trước xu thế này, Việt Nam buộc phải đẩy nhanh chuyển dịch sang năng lượng sạch, bao gồm điện tái tạo, nhiên liệu sinh học, khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) và hydrogen… nhằm vừa giảm phát thải, vừa đảm bảo an ninh năng lượng. Đặc biệt, trong các đô thị, giao thông và công nghiệp tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch là hai lĩnh vực phát thải lớn nhất, đóng góp vào tăng lượng CO₂ và bụi mịn PM2.5. Do đó, ngành dầu khí không chỉ cung cấp năng lượng truyền thống, mà đang được kỳ vọng trở thành “người dẫn dắt” quá trình chuyển dịch xanh nhờ năng lực kỹ thuật, hạ tầng và kinh nghiệm vận hành chuỗi giá trị năng lượng quốc gia.

gen-h-ong-nguyen-hung-dung_1764039557.webp
TS. Nguyễn Hùng Dũng, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Dầu khí Việt Nam cho rằng, chuyển đổi xanh trong ngành dầu khí không chỉ là nhiệm vụ bắt buộc, mà còn là cơ hội tái định vị vai trò của Việt Nam trong chuỗi giá trị năng lượng 

Chuyển đổi sang nhiên liệu sạch là xu thế không thể đảo ngược, song với ngành dầu khí, đây là một bài toán nhiều chiều, đó là vừa công nghệ, vừa kinh tế, vừa chính sách. Anh hùng Lao động, TS. Nguyễn Hùng Dũng, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Dầu khí Việt Nam cho rằng, ngành dầu khí đang đứng trước nhiều thách thức trong hành trình chuyển đổi, đó là: hiện nay đầu tư hạ tầng cho LNG, CNG, hydrogen hay nhiên liệu sinh học đòi hỏi chi phí rất lớn. Hệ thống kho cảng, đường ống, trạm nạp, công nghệ lưu trữ và tiêu chuẩn an toàn cần được xây dựng đồng bộ, trong khi khung pháp lý cho các loại nhiên liệu mới vẫn đang hoàn thiện. Hiện nay, công nghệ năng lượng mới như hydrogen xanh, biofuel thế hệ mới, hay thu giữ, lưu trữ carbon (CCUS) của chúng ta vẫn còn ở giai đoạn đầu, phụ thuộc vào hợp tác quốc tế, chi phí cao và thời gian thu hồi vốn dài. Nếu thiếu chính sách khuyến khích và cơ chế tài chính xanh, doanh nghiệp sẽ gặp rủi ro lớn khi đầu tư. Việc chuyển đổi xanh đòi hỏi có nguồn nhân lực chất lượng cao và năng lực nghiên cứu, đổi mới, phát triển của ngành dầu khí cần thời gian để bồi dưỡng và thích ứng. Cùng với đó, thói quen tiêu dùng nhiên liệu truyền thống và sự thiếu đồng bộ về tiêu chuẩn kỹ thuật cũng là rào cản lớn trong quá trình thương mại hóa các sản phẩm năng lượng sạch.

Phát huy lợi thế, hướng tới phát triển bền vững

Tuy nhiên, có thể khẳng định, trải qua hơn nửa thế kỷ phát triển, ngành dầu khí đã xây dựng được chuỗi cung ứng năng lượng hoàn chỉnh, từ thăm dò, khai thác, chế biến, phân phối đến tiêu thụ. Mạng lưới kho cảng, bể chứa, đường ống và hơn 13.000 cửa hàng xăng dầu trên cả nước là nền tảng vững chắc để chuyển sang cung ứng nhiên liệu sạch như E10, B20, LNG, CNG hay hydrogen trong tương lai gần.

Thời gian qua, đã có một số dự án LNG quy mô lớn như Thị Vải (tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cũ) và Sơn Mỹ (Bình Thuận cũ) đang đi vào vận hành với công suất cung ứng hơn 10 triệu tấn/năm, đủ phục vụ phát điện, công nghiệp và giao thông đô thị. Hay Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng 1 thuộc Tổng Công ty Điện lực Dầu khí Việt Nam (PVPower) đang chuyển mạnh sang phát triển điện khí LNG, các dự án lớn như Nhơn Trạch 3–4, Hải Phòng và Quảng Ninh, góp phần thay thế dần nguồn điện than trong hệ thống quốc gia.

Ở lĩnh vực hóa chất, Công ty Phân đạm và Hóa chất Dầu khí  (PVFCCo) đã phát triển sản phẩm DEF – Phú Mỹ Xanh, dung dịch xử lý khí thải đạt tiêu chuẩn quốc tế, giúp giảm tới 90% lượng NOx phát thải từ động cơ diesel. Sản phẩm này đang được phân phối rộng rãi qua hệ thống PVOIL, đó là một bước tiến thiết thực trong chiến lược “xanh hóa” chuỗi nhiên liệu cho giao thông đô thị.

gen-h-anh-cay-xang_1764039824.webp
Ngành dầu khí hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0”

Không chỉ có hạ tầng vật chất, ngành dầu khí còn có ưu thế vượt trội về quản lý chuỗi giá trị năng lượng khép kín và năng lực kỹ thuật cao trong vận hành các công trình biển, chế tạo thiết bị, và logistics. Các đơn vị như Tổng Công ty Khí Việt Nam (PVGAS), Tổng Công ty Dầu Việt Nam (PVOIL)… đều đã làm chủ công nghệ vận hành quy mô lớn, tạo tiền đề cho việc phát triển các loại nhiên liệu mới như hydrogen hay amoniac xanh.

Theo TS. Nguyễn Hùng Dũng, trong thời gian tới chúng ta cần triển khai nhiều mô hình chuyển đổi năng lượng, tiến tới phát triển xanh, đặc biệt ở các đô thị lớn. Trong đó, tại Thủ đô Hà Nội và Thành Hồ Chí Minh cần xây dựng các trạm năng lượng xanh”, cung cấp LNG, xăng sinh học, điện sạc và hydrogen cho giao thông công cộng. Tại TP. Hải Phòng và Đà Nẵng ưu tiên phát triển chuỗi logistic xanh, sử dụng LNG/CNG cho vận tải cảng biển và công nghiệp. Hay tại TP. Cần Thơ cần sớm ứng dụng mô hình nhiên liệu sinh học từ phế phụ phẩm nông nghiệp, vì đây là địa phương có lợi thế về phát triển nông nghiệp, kết hợp xử lý chất thải đô thị để giảm ô nhiễm và tạo sinh kế xanh. Cùng với đó, ngành dầu khí xác định, LNG và CNG là nhiên liệu chuyển tiếp chiến lược, giúp giảm ngay 20–25% phát thải CO₂ so với dầu diesel. Đến năm 2030, mục tiêu là nhiên liệu sạch chiếm ít nhất 30% tổng sản lượng cung cấp cho đô thị, đây là một bước tiến quan trọng trong lộ trình xanh hóa năng lượng quốc gia.

Theo ông Dũng, để việc chuyển đổi thực sự hiệu quả, cần có sự phối hợp đồng bộ giữa Nhà nước, doanh nghiệp và xã hội. Chính phủ cần hoàn thiện khung pháp lý, tiêu chuẩn kỹ thuật, cơ chế ưu đãi thuế và tín dụng xanh; các địa phương cần tích hợp hạ tầng năng lượng sạch vào quy hoạch đô thị. Đặc biệt, các doanh nghiệp dầu khí phải chủ động đổi mới công nghệ, đào tạo nhân lực và mở rộng hợp tác quốc tế… nhằm đáp ứng sự phát triển của đất nước cũng như su thế phát triển của thế giới.

Chuyển đổi xanh trong ngành dầu khí không chỉ là nhiệm vụ bắt buộc, mà còn là cơ hội tái định vị vai trò của Việt Nam trong chuỗi giá trị năng lượng khu vực. Khi hạ tầng LNG được hoàn thiện, khi hydrogen xanh và nhiên liệu sinh học trở nên phổ biến, ngành dầu khí Việt Nam có thể trở thành một mắt xích quan trọng của hệ sinh thái năng lượng bền vững Đông Nam Á. Với tầm nhìn đến 2050, ngành dầu khí hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0”, đóng góp vào mục tiêu quốc gia về kinh tế xanh, tuần hoàn và phát triển bền vững.

Lê Hải - Sỹ Tùng