Trong những năm gần đây, ngành hoa, rau, cây cảnh đã ghi nhận những bước phát triển vượt bậc, đặc biệt tại các tỉnh phía Nam và khu vực Tây Nguyên. Bên cạnh sự nỗ lực của người dân, doanh nghiệp, khoa học công nghệ được xem là yếu tố quan trọng góp phần thúc đẩy đà tăng trưởng này. Để hiểu rõ hơn những chuyển biến và vai trò của khoa học công nghệ trong lĩnh vực hoa, rau, cây cảnh, phóng viên Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường đã có cuộc trao đổi với TS. Nguyễn Thế Nhuận, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Khoai tây, Rau và Hoa (Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam).
PV: Thưa ông, được biết Trung tâm Nghiên cứu Khoai tây, Rau và Hoa (Trung tâm) là đơn vị đầu ngành về nghiên cứu cây trồng ôn đới. Xin ông cho biết nhiệm vụ trọng tâm của Trung tâm?
TS. Nguyễn Thế Nhuận: Trung tâm được thành lập từ năm 1978 với chức năng là nghiên cứu chọn tạo giống, phát triển công nghệ sản xuất khoai tây, khoai lang và các đối tượng rau, hoa ôn đới phù hợp với điều kiện vùng Tây Nguyên và các vùng khác có điều kiện tương tự trong cả nước. Trong đó, nhiệm vụ trọng tâm của Trung tâm là thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu các cấp (Cấp nhà nước, cấp Bộ, địa phương), chương trình hợp tác quốc tế và hợp tác nghiên cứu với các doanh nghiệp trong và ngoài nước.
Trong giai đoạn mới thành lập, Trung tâm tập trung vào hoạt động nghiên cứu chọn tạo giống khoai tây, công nghệ sản xuất hạt lai khoai tây, công nghệ nuôi cấy mô thực vật, đặt nền móng cho công nghệ sản xuất cây giống ra rễ khoai tây sạch bệnh và sản xuất của giống các cấp (G0, G1, G2) ngày nay. Việc đưa vào sử dụng các giống mới do Trung tâm chọn tạo đã giúp tăng năng suất trung bình toàn vùng từ 10–12 tấn/ha giai đoạn những năm 1980 và 17–18 tấn/ha giai đoạn 2000 và hiện nay là 25-30 tấn/ha tại các vùng áp dụng mô hình giống sạch bệnh và quy trình canh tác tiên tiến. Công nghệ sản xuất hạt lai đã góp phần đẩy mạnh sản xuất khoai tây vụ đông tại vùng đồng bằng sông Hồng. Qua nhiều lần thay đổi chức năng, nhiệm vụ, Trung tâm vẫn duy trì các hoạt động nghiên cứu, đến thời điểm hiện tại, Trung tâm đang lưu giữ an toàn in vitro tập đoàn 1.007 nguồn gien giống các loại để phục vụ cho công tác lai tạo giống (381 mẫu giống khoai tây, 42 giống khoai lang, 50 giống mẫu giống hoa cắt cành, 158 mẫu giống cà chua, ớt ngọt các loại…). Hàng năm, Trung tâm tổ chức lai tạo từ 30-50 tổ hợp lai khoai tây, 5-10 tổ hợp lai khoai lang, 20-30 tổ hợp lai dâu tây, 30-50 tổ hợp lai cà chua và từ 50-60 tổ hợp lai giống hoa cắt cành để phục vụ công tác chọn tạo giống mới. Trên cở sở định hướng chọn tạo giống có năng suất cao, chất lượng tốt, kháng bệnh cho sản xuất, Trung tâm đã chọn lọc, khảo nghiệm và tự công bố được 25 giống cây trồng mới cho sản xuất (6 giống khoai tây, 4 giống khoai lang, 5 giống cà chua, 2 giống ớt ngọt, 2 giống dâu tây, 1 giống cúc vu và 5 giống hoa cắt cành các loại).
PV: Trong nhóm cây trồng ôn đới, có thể nói khoai tây là thế mạnh nổi bật của Trung tâm. Ông có thể điểm qua những giống khoai tây tiêu biểu đã và đang được sản xuất rộng rãi?
TS. Nguyễn Thế Nhuận: Hiện tại, Trung tâm đang lưu giữ an toàn in vitro 381 mẫu giống khoai tây, hàng năm tổ chức lai tạo từ 30-50 tổ hợp lai theo các định hướng khác nhau (ăn tươi, chế biến), trên cở sở chọn lọc dòng chọn triển vọng các chu kỳ, khảo nghiệm diện hẹp, diện rộng, Trung tâm đã tự công bố lưu hành được 7 giống khoai tây cho sản xuất tại vùng Tây Nguyên và vùng đồng bằng sông Hồng, trong đó nổi bật là các giống khoai tây Atlantic.
Trong khuôn khổ dự án hợp tác phát triển khoai tây phục vụ công nghiệp chế biến giữa Trung tâm và Công ty PepsiCo Việt Nam (PepsiCo VN), một chương trình chọn tạo giống khoai tây chế biến mà PepsiCo VN dự kiến đầu tư phát triển, được tiến hành từ tháng 4/2006. Dự án đã nhập nội, khảo nghiệm và sản xuất thử một số giống khoai tây chế biến mới. Kết quả cho thấy, giống Atlantic là giống rất triển vọng do khả năng thích ứng tốt với điều kiện sản xuất của nước ta, có tiềm năng năng suất cao (20-25 tấn/ha), đặc biệt là hình thái và phẩm chất củ phù hợp với yêu cầu chế biến công nghiệp (củ oval tròn, mắt nông, đường khử thấp, hàm lượng chất khô cao từ 19-20%), và đã được nhiều địa phương đưa vào trồng như Lâm Đồng, Hài Phòng, Hưng Yên… Ngoài ra còn có TK15.80. Giống có thời gian sinh trưởng khoảng 95-100 ngày và có ưu điểm ít nhiễm bệnh mốc sương, cho năng suất trung bình đạt 27-30 tấn/ha...
PV: Một trong những yếu tố làm nên thành công trong nghiên cứu của Trung tâm là mô hình sản xuất giống sạch bệnh. Ông có thể nói rõ hơn về hệ thống này?
TS. Nguyễn Thế Nhuận: Nhân giống sạch bệnh bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào thực vật (in vitro) được Trung tâm tổ chức nghiên cứu và hoàn thiện các quy trình công nghệ cho từng đối tượng cây trồng tại đơn vị trong nhiều năm qua. Hàng năm, Trung tâm tổ chức nhân giống và cung cấp cho sản xuất các tỉnh Tây Nguyên và một số địa phương khác từ 1,5- 2 triệu cây các loại (Khoai tây, khoai lang, dâu tây, hoa cắt cành…). Dự kiến trong giai đoạn tiếp theo 2026-2030, Trung tâm sẽ tìm kiếm đối tác và tổ chức đưa quy mô sản xuất tại đơn vị lên từ 5-10 triệu cây/năm.
Ngoài cây khoai tây, trong gian đoạn từ năm 2015 tới nay, Trung tâm tập trung vào nghiên cứu thêm nhiều đối tượng cây trồng khác như cây khoai lang, dâu tây, cà chua, hoa cúc. Hàng năm, Trung tâm đã lai tạo từ 5-10 tổ hợp lai khoai lang, 20-30 tổ hợp lai dâu tây, 30-50 tổ hợp lại cà chua và 30-50 tổ hợp lai hoa cúc để phục vụ công công tác chọn tạo giống mới. Trung tâm đã chọn lọc, khảo nghiệm, tự công bố lưu hành 4 giống khoai lang, 5 giống cà chua và 5 giống hoa cắt cành các loại. Các giống do Trung tâm chọn tạo được người dân và thị trường ưa chuộng và đang phục vụ tốt cho sản xuất, tiêu biểu như giống khoai lang Kago TN1, Kago TN2, giống cà chua NT8, NT10, giống hoa cúc C15, C19, C191...
PV: Xin ông cho biết, Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về Khoa học công nghệ và Đổi mới sáng tạo đã tác động như thế nào đối với việc nghiên cứu, chuyển giao của đơn vị?
TS. Nguyễn Thế Nhuận: Nghị quyết 57-NQ/TW được ban hành với tầm nhìn chiến lược, đặt khoa học công nghệ (KHCN), bao gồm nghiên cứu nông nghiệp, sinh học và công nghệ trồng trọt vào vị trí trung tâm của phát triển kinh tế-xã hội. Nghị quyết nhấn mạnh vai trò của KHCN và đổi mới sáng tạo trong phát triển nông nghiệp hiện đại, bền vững, nông nghiệp xanh và hội nhập quốc tế, góp phần nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm nông nghiệp và công nghệ ứng dụng công nghệ cao. Khuyến khích cởi trói thể chế, tháo gỡ các rào cản hành chính để các đơn vị nghiên cứu có thể thử nghiệm, sáng tạo trong nghiên cứu và chuyển giao công nghệ nhanh hơn tới người sản xuất.
Với chức năng, nghiệm vụ của một đơn vị sự nghiệp KHCN trong nghiên cứu nông nghiệp, chúng tôi thấy rằng, Nghị quyết này là luồng gió mới, tạo động lực, niềm tin cho các nhà khoa học, nhất là các nhà khoa học trẻ tin tưởng để gắn bó cống hiến đam mê của mình cho KHCN. Đây là động lực lớn giúp Trung tâm xây dựng các nhiệm vụ nghiên cứu lâu dài, theo các chuỗi giá trị nông sản an toàn, tăng tính cạnh tranh của sản phẩm và đẩy nhanh thời gian từ nghiên cứu tới ứng dụng thực tế. Trong thời gian qua, chúng tôi đã đề xuất các nhiệm vụ để giải quyết các vấn đề cho chuỗi ngành hàng khoai tây, khoai lang tại vùng Tây Nguyên, vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Tuy nhiên, để Nghị quyết sớm được thực hiện chúng ta cần: Cụ thể hóa Nghị quyết bằng chương trình, kế hoạch gắn với từng chương trình, đề án nghiên cứu và chuyển giao cụ thể, có mục tiêu và sản phẩm đầu ra rõ ràng. Đổi mới cơ chế quản lý khoa học, giảm thủ tục hành chính, tăng quyền tự chủ cho đơn vị nghiên cứu, lấy hiệu quả ứng dụng làm thước đo, thực hiện cơ chế khoán đến sản phẩm cuối cùng. Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị cho các đơn vị nghiên cứu KHCN công lập có hiệu quả, có các chính sách, giải pháp thu hút, tuyển dụng nguồn lực cho KHCN. Tăng cường truyền thông, nâng cao nhận thức về vai trò của KHCN, nhân rộng các mô hình nghiên cứu, chuyển giao hiệu quả, ưu tiên cho nghiên cứu ứng dụng.
Đối với Trung tâm, sẽ tiếp tục chuyển mạnh tập trung vào nghiên cứu ứng dụng, giải quyết các “bài toán lớn” của sản xuất như: Giống sạch bệnh, giống có năng suất, chất lượng cao, kháng bệnh, thích ứng biến đổi khí hậu; xây dựng và phát triển hệ thống sản xuất giống sạch bệnh. Các nhiệm vụ KHCN sẽ gắn chặt với nhu cầu của nông dân, doanh nghiệp và thị trường tiêu thụ. Đẩy mạnh chuyển giao tiến bộ kỹ thuật thông qua các mô hình trình diễn, liên kết sản xuất – tiêu thụ, hợp tác với nông dân, doanh nghiệp, hợp tác xã. Tăng cường liên kết và huy động nguồn lực xã hội cho nghiên cứu.
Từ nghị quyết này, hy vọng trong thời gian tới, Trung tâm sẽ có nhiều cơ hội mở rộng hợp tác với các viện, trường, doanh nghiệp trong và ngoài nước; thu hút các nguồn lực ngoài ngân sách cho nghiên cứu và đổi mới sáng tạo.