Nghị quyết 57-NQ/TW tạo không gian mới cho phát triển nông nghiệp

Nghị quyết 57-NQ/TW tạo không gian mới cho phát triển nông nghiệp

Thứ sáu, 8/5/2026, 10:04 (GMT+7)
logo GS, TS. Nguyễn Hồng Sơn, Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị tạo ra không gian chính sách hoàn toàn mới, trong đó nông nghiệp không còn là lĩnh vực ứng dụng công nghệ sau cùng mà phải trở thành lĩnh vực tiên phong về công nghệ sinh học, công nghệ số, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải.
dmt_0989ok_1778035448.jpg
GS, TS. Nguyễn Hồng Sơn, Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam

Phóng viên: Ông đánh giá như thế nào về những đột phá trong nội dung Nghị quyết 57-NQ/TW đối với phát triển khoa học công nghệ nói chung và khoa học công nghệ trong lĩnh vực nông nghiệp nói riêng?

GS, TS. Nguyễn Hồng Sơn, Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam: Tôi cho rằng, Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia ra đời trong bối cảnh nền khoa học công nghệ của chúng ta đang cần sự đổi mới căn bản cả về nội dung cũng như phương thức tổ chức thực hiện các nhiệm vụ khoa học công nghệ nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong điều kiện mới. 

Về điểm đột phá, Nghị quyết 57-NQ/TW đã nhìn thẳng vào những điểm nghẽn của công tác phát triển khoa học công nghệ, đặc biệt là việc ứng dụng khoa học công nghệ để chuyển giao vào sản xuất. Chính vì vậy, Nghị quyết 57-NQ/TW đã đưa ra những giải pháp, nội dung rất phù hợp, đặc biệt là những giải pháp tháo gỡ khó khăn, hoàn thiện thể chế về công tác quản lý để mở đường cho khoa học, tạo động lực cho khoa học công nghệ phát triển. 

Điểm nổi bật nhất là lần đầu tiên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được xác định là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại và hoàn thiện quan hệ sản xuất trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia. Nghị quyết không chỉ dừng ở định hướng chung mà đặt ra các mục tiêu rất cụ thể đến năm 2030 và tầm nhìn 2045, gắn khoa học công nghệ với tăng trưởng TFP (tăng năng suất yếu tố tổng hợp), tỷ trọng sản phẩm công nghệ cao, đầu tư cho R&D, hạ tầng số, dữ liệu và nhân lực chất lượng cao. Đây là cách tiếp cận theo hệ sinh thái, lấy thể chế, hạ tầng, nhân lực và doanh nghiệp làm trụ cột, thay vì chỉ tập trung vào các đề tài nghiên cứu đơn lẻ. 

Đối với lĩnh vực nông nghiệp, Nghị quyết 57-NQ/TW tạo ra một không gian chính sách hoàn toàn mới, trong đó nông nghiệp không còn là lĩnh vực ứng dụng công nghệ sau cùng mà phải trở thành lĩnh vực tiên phong về công nghệ sinh học, công nghệ số, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải. Điều này rất phù hợp với định hướng đầu tư, nghiên cứu và đào tạo nguồn nhân lực của Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (VAAS) giai đoạn 2026 - 2030 là chuyển mạnh từ số lượng sang chất lượng, từ nghiên cứu phân tán sang nghiên cứu tập trung theo định hướng tạo ra chuỗi giá trị sản phẩm chủ lực, có lợi thế, tích hợp đa ngành và ứng dụng công nghệ hiện đại gắn với chuyển đổi số toàn diện trong sản xuất nông nghiệp.  

Tôi rất tâm huyết với những nội dung của Nghị quyết, đặc biệt là việc hoàn thiện thể chế nhằm thu hút các nhà khoa học có trình độ cao vào hoạt động trong lĩnh vực khoa học công nghệ, tạo điều kiện để các nhà khoa học yên tâm cống hiến.

Kỳ vọng của nhiều nhà khoa học đó là tháo gỡ về mặt thể chế, tăng cường tiềm lực về khoa học công nghệ. Chúng ta cũng biết, những năm qua, khoa học công nghệ, đặc biệt là khoa học công nghệ trong lĩnh vực nông nghiệp đã có những đóng góp rất quan trọng cho sự phát triển của ngành nông nghiệp, giúp chúng ta từ một nước thiếu lương thực, thực phẩm trở thành một nước có thể tự chủ hoàn toàn về lương thực, thực phẩm, đảm bảo an ninh lương thực, đóng góp một phần rất lớn tạo ra kim ngạch xuất khẩu với tốc độ tăng trưởng rất nhanh. 

Tuy nhiên, đến thời điểm này, khoa học công nghệ đang cần một sự thay đổi căn bản, đó là sự chuyển biến về lượng sang chuyển biến về chất và đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội; đó là vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm, tăng giá trị hàng hoá, giảm chi phí nhân công lao động,... để mang lại hiệu quả cao nhất cho người nông dân. Vì vậy, khoa học công nghệ cần phải có bước chuyển biến căn bản, muốn có sự chuyển biến đó, việc tiếp cận trong công tác quản lý cũng phải có thay đổi căn bản. Như đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm từng nói là để cho các nhà khoa học yên tâm làm việc khoa học; đây cũng là điều mà các nhà khoa học kỳ vọng khi triển khai thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW.

dmt_0994ok_1778035450.jpg
GS, TS. Nguyễn Hồng Sơn, Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam

Phóng viên: Theo ông, cần có cách tiếp cận và thực hiện như nào để Nghị quyết 57-NQ/TW nhanh chóng đi vào cuộc sống một cách thực chất, hiệu quả?

GS, TS. Nguyễn Hồng Sơn, Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam: Trước hết, chúng ta phải đánh giá và nhận diện được những điểm nghẽn đối với từng lĩnh vực khoa học công nghệ. Trong đó, khoa học công nghệ trong lĩnh vực nông nghiệp cũng có nhiều điểm nghẽn về thể chế, năng lực cán bộ, cơ sở hạ tầng, kinh phí đầu tư cho khoa học công nghệ.

Trong giai đoạn hiện nay, muốn có sự thay đổi căn bản thì khoa học công nghệ phải tiếp cận được với trình độ khoa học tiên tiến của khu vực và trên thế giới. Chúng ta phải có nghiên cứu một cách bài bản, căn bản hơn và đẩy mạnh nghiên cứu cơ bản để có nền tảng tốt, tạo ra những sản phẩm mang tính đột phá. Vì vậy, chúng ta phải rà soát lại những điểm nghẽn về thể chế, năng lực cán bộ, cơ sở hạ tầng phục vụ công tác nghiên cứu.

Về đào tạo nguồn lực cán bộ thực hiện nhiệm vụ khoa học công nghệ, chúng ta cần thu hút nguồn nhân lực được đào tạo căn bản ở nước ngoài, song song với đó tiếp tục đào tạo căn bản hơn đối với cán bộ thực hiện nhiệm vụ khoa học công nghệ, đặc biệt là đào tạo thông qua thực hành, thực hiện các công cụ khoa học công nghệ.

Để Nghị quyết nhanh chóng đi vào cuộc sống, theo tôi cần bảo đảm ba yêu cầu cốt lõi. 

Thứ nhất, phải cụ thể hóa Nghị quyết thành chương trình hành động có mục tiêu, có chỉ tiêu đo lường, có phân công trách nhiệm rõ ràng, phân cấp trao quyền tự chủ cho các tổ chức khoa học công nghệ và có cơ chế giám sát đánh giá định kỳ. 

Thứ hai, phải nhanh chóng tháo gỡ các rào cản về thể chế, đổi mới toàn diện các quy trình thực thi (đặt hàng, tuyển chọn, xác định nhiệm vụ, nghiệm thu, giao sản phẩm,…) và cơ chế tài chính. Nếu vẫn quản lý khoa học theo tư duy hành chính thuần túy, nặng về thủ tục và kiểm soát hình thức thì rất khó chấp nhận rủi ro khoa học và càng khó có đột phá. Nghị quyết đã đặt vấn đề hoàn thiện thể chế, xóa bỏ rào cản, chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu và thí điểm chính sách mới, đây là điểm rất quan trọng. 

Thứ ba, phải gắn nghiên cứu với doanh nghiệp và thị trường, lấy nhu cầu thực tiễn và khả năng thương mại hóa làm thước đo quan trọng của thành công. Khó khăn lớn hiện nay là nguồn lực còn phân tán, hạ tầng nghiên cứu chưa đồng bộ và tâm lý e ngại rủi ro trong nghiên cứu khoa học. Nếu không thay đổi tư duy quản trị theo hướng trao quyền, đánh giá theo kết quả và tác động, thì rất khó đạt được mục tiêu đột phá mà Nghị quyết đặt ra.

dmt_1000ok_1778035450.jpg
GS, TS. Nguyễn Hồng Sơn, Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam

Phóng viên: Nhiều nhà khoa học và các chuyên gia cho rằng, để khuyến khích các nhà khoa học và các cơ quan nghiên cứu có động lực và tự tin gánh vác trách nhiệm, dấn thân cho khoa học, cần thành lập Quỹ Khoa học công nghệ và Đổi mới sáng tạo, đưa ra cơ chế quản lý rủi ro trong nghiên cứu khoa học. Ông đánh giá thế nào về điều này?

GS, TS. Nguyễn Hồng Sơn, Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam: Tôi hoàn toàn đồng tình với quan điểm cần hình thành và vận hành hiệu quả Quỹ Khoa học công nghệ và Đổi mới sáng tạo với cơ chế quản lý rủi ro phù hợp. Bản chất của khoa học là tìm tòi cái mới, mà cái mới luôn tiềm ẩn rủi ro. Nếu không có cơ chế chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước, nhà khoa học và doanh nghiệp thì sẽ không có những nghiên cứu đột phá.

Quỹ không chỉ là nguồn cấp kinh phí mà còn phải có cơ chế đánh giá linh hoạt, chấp nhận thất bại có kiểm soát, miễn trừ trách nhiệm trong trường hợp rủi ro khách quan và khuyến khích các ý tưởng mang tính đột phá. Bên cạnh nguồn ngân sách Nhà nước và đóng góp tự nguyện từ doanh nghiệp, cần nghiên cứu cơ chế hình thành nguồn quỹ bền vững từ chính giá trị gia tăng của ngành hàng.

Ví dụ đối với ngành lúa gạo, có thể trích một khoản phí bản quyền giống dựa trên lượng hàng hóa xuất khẩu. Nếu mỗi tấn gạo xuất khẩu đóng góp 1 USD cho Quỹ, trong bối cảnh Việt Nam xuất khẩu khoảng 6 đến 8 triệu tấn gạo mỗi năm, chúng ta có thể tạo ra nguồn lực ổn định từ 6 đến 8 triệu USD mỗi năm để tái đầu tư cho nghiên cứu chọn tạo giống, công nghệ sản xuất, sau thu hoạch, giảm phát thải và nâng cao chất lượng gạo. Đây là cơ chế rất công bằng, vì chính kết quả nghiên cứu khoa học đã góp phần tạo ra năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh cho hàng hóa xuất khẩu, một phần giá trị đó cần quay trở lại phục vụ khoa học.

Theo đó, ngành hàng lúa gạo chất lượng cao, giảm phát thải có thể tham gia rất tích cực vào Quỹ này. Nếu có cơ chế quỹ đủ mạnh, hỗ trợ nghiên cứu chỉnh sửa gen, chọn giống dựa trên hệ gen, kết hợp công nghệ số trong quản lý canh tác và truy xuất nguồn gốc, chúng ta có thể tạo ra thế hệ giống lúa mới vừa chất lượng cao, vừa thích ứng biến đổi khí hậu, vừa đáp ứng tiêu chuẩn các thị trường khó tính.

Tôi kỳ vọng nếu Quỹ này được hình thành, chúng ta sẽ có cơ chế vận hành đảm bảo minh bạch, khách quan, đồng thời đảm bảo thông thoáng cho các nhà khoa học trên tinh thần khuyến khích, động viên cho những công trình khoa học thành công và được ứng dụng rộng rãi trong thực tiễn. 

Bên cạnh đó, kỳ vọng của tôi là tạo ra những sản phẩm khoa học có giá trị gia tăng lớn, nâng cao thương hiệu quốc gia cho nông sản Việt Nam và bảo đảm sự phát triển bền vững của ngành.

dmt_0965ok_1778035448.jpg
GS, TS. Nguyễn Hồng Sơn, Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam

Phóng viên: Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam là cơ quan khoa học đầu ngành trong lĩnh vực trồng trọt. Hiện nay, đơn vị có những kế hoạch hành động cụ thể nào trong triển khai thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW?

GS, TS. Nguyễn Hồng Sơn, Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam: Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam xác định phải đi đầu trong triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW. Khi triển khai thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW, chúng tôi bám sát Kế hoạch hành động của Bộ Nông nghiệp và Môi trường để xây dựng Kế hoạch hành động của mình.

Trước hết, chúng tôi đang rà soát và tái cấu trúc tổ chức theo hướng tinh gọn, hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh theo ngành hàng chủ lực như lúa gạo, cà phê, cây ăn quả, rau và cây công nghiệp để giải quyết tổng thể các vấn đề của từng ngành hàng. 

Thứ hai, chuyển mạnh mục tiêu nghiên cứu từ số lượng sang chất lượng và tác động thực tiễn, tập trung xử lý các nút thắt trong chuỗi giá trị của các ngành hàng xuất khẩu chủ lực. 

Thứ ba, chúng tôi ưu tiên đầu tư hạ tầng nghiên cứu hiện đại như phòng thí nghiệm đạt chuẩn, công nghệ sinh học, công nghệ gen, nền tảng dữ liệu số và nông nghiệp thông minh, chính xác. 

Thứ tư, đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện, xây dựng cơ sở dữ liệu đất, cây trồng, dịch hại và ứng dụng trí tuệ nhân tạo, IoT trong dự báo và quản lý sản xuất.

Về định hướng dài hạn, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam không chỉ là nơi tạo ra giống mới hay quy trình kỹ thuật mà phải trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo nông nghiệp quốc gia, gắn nghiên cứu với doanh nghiệp và thị trường, đóng góp thiết thực vào tăng trưởng xanh và phát triển nông nghiệp bền vững của Việt Nam trong giai đoạn mới.

Phóng viên: Trân trọng cảm ơn ông!

Thành Minh