news
PGS, TS. Thái Thanh Bình: Nguồn nhân lực là “chìa khóa” phát triển ngành thủy sản

PGS, TS. Thái Thanh Bình: Nguồn nhân lực là “chìa khóa” phát triển ngành thủy sản

Thứ sáu, 15/5/2026, 06:21 (GMT+7)
logo Những năm gần đây, ngành thủy sản với mức độ tăng trưởng năm sau luôn cao hơn năm trước. Đặc biệt, năm 2025, kim ngạch xuất khẩu đạt trên 11 tỷ USD. Để có được thành tựu này, ngoài sự chỉ đạo sát sao của lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng sự nỗ lực của người dân, doanh nghiệp…, trong đó phải kể đến đội ngũ nguồn nhân lực phục vụ nuôi trồng, chế biết, xuất khẩu thủy sản. Phóng viên Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường đã có cuộc trao đổi với PGS, TS. Thái Thanh Bình, Phó Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Kinh tế, Kỹ thuật và Thủy sản.
abinh-bai_1778650472.jpg
PGS, TS. Thái Thanh Bình, Phó Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Kinh tế, Kỹ thuật và Thủy sản

PV: Xin ông cho biết công tác đào tạo nguồn nhân lực thủy sản thời gian qua, đặc biệt là công tác đào tạo nghề?

PGS, TS. Thái Thanh Bình: Đối với bất kỳ ngành nghề nào thì công tác đào tạo nguồn nhân lực luôn được quan tâm, đặc biệt là đối với ngành thủy sản. Trong những năm qua, ngành thủy sản Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc, dấu mốc nổi bật là kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt trên 11 tỷ USD vào năm 2025. Thành tựu đó có sự đóng góp rất lớn của lực lượng lao động trong toàn ngành.

Việt Nam có nhiều tiềm năng để phát triển thủy sản và hiện nay Chính phủ cũng đang chuyển hướng từ phụ thuộc vào khai thác sang đẩy mạnh nuôi trồng thủy sản. Tổng sản lượng thủy sản của cả nước hiện đạt khoảng 9,8 triệu tấn, trong đó nuôi trồng chiếm trên 6,1 triệu tấn. Điều này cho thấy tỷ trọng khai thác đang giảm dần, thay vào đó là chủ trương phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững.

Thời gian qua, ngành thủy sản cũng tập trung mạnh vào chuyển đổi số và phát triển thủy sản xanh và thông minh. Vì vậy, công tác đào tạo nguồn nhân lực buộc phải thay đổi để thích ứng với xu thế phát triển mới của ngành.

Tuy nhiên, nguồn nhân lực thủy sản hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế. Hiện cả nước có khoảng 4 triệu lao động tham gia sản xuất thủy sản nhưng tỷ lệ lao động qua đào tạo còn rất thấp. Theo đánh giá trong báo cáo xây dựng Đề án phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (1664/QĐ-TTg), tỷ lệ lao động được đào tạo chỉ khoảng 20%. Đây là một con số đáng lo ngại khi ngành đang ngày càng yêu cầu cao về kỹ thuật và công nghệ.

Một vấn đề khác là năng suất lao động trong ngành hiện chưa cao. Chỉ các doanh nghiệp lớn mới có tính chuyên nghiệp tương đối ổn định, còn phần lớn hoạt động sản xuất thủy sản vẫn mang tính nhỏ lẻ, hộ gia đình. Điều này khiến năng suất lao động thấp và thiếu ổn định, trong đó nguyên nhân quan trọng là trình độ và kỹ năng của người lao động còn hạn chế.

Đối với đào tạo thủy sản, hiện cả nước chỉ có khoảng 34 cơ sở đào tạo liên quan đến ngành, nhưng số trường đào tạo nghề chuyên sâu còn rất ít. Trong khi đó, nhu cầu lớn nhất hiện nay lại là lao động kỹ thuật phục vụ trực tiếp cho doanh nghiệp. Đây là vấn đề cần được định hướng lại trong công tác đào tạo nghề thời gian tới.

Theo tôi, một thực trạng đáng chú ý là hiện nay khoảng 70% học sinh, sinh viên sau khi ra trường chưa đáp ứng được ngay yêu cầu của doanh nghiệp. Điều này dẫn đến lãng phí nguồn nhân lực. Một trong những nguyên nhân là hệ thống đào tạo chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn và sự phát triển của công nghệ cao.

Hiện nay, nhiều cơ sở đào tạo chưa được đầu tư đầy đủ về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ đào tạo hiện đại. Đặc biệt, trong lĩnh vực nuôi biển công nghệ cao, hầu hết các trường chưa có mô hình thực hành hiện đại cho sinh viên. Trong khi đó, các doanh nghiệp có mô hình nuôi biển hiện đại cũng còn ít, dẫn đến việc liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo nghề chưa hiệu quả.

Bên cạnh chuyên môn, trong bối cảnh chuyển đổi số và sản xuất xanh, người lao động còn phải đáp ứng nhiều yêu cầu về kỹ năng và chứng chỉ quốc tế như ASC, MSC, chứng chỉ an toàn lao động, kỹ năng vận hành thiết bị hiện đại, kỹ năng bơi, lặn và cứu hộ… Đây đều là những yêu cầu mà thị trường lao động quốc tế đang đặt ra. Tuy nhiên, chương trình đào tạo trong nước vẫn chưa cập nhật đầy đủ những nội dung này.

Một khó khăn nữa là công tác tuyển sinh đối với ngành nông nghiệp nói chung và thủy sản nói riêng ngày càng khó khăn. Nhiều người vẫn cho rằng đây là ngành nghề vất vả, môi trường làm việc thường xa các thành phố. Đặc biệt ở các vùng ven biển, lao động trẻ có nhiều lựa chọn khác như làm việc tại khu công nghiệp, khu du lịch, dịch vụ nên ngành thủy sản khó thu hút nhân lực.

Tình trạng thiếu lao động thủy sản không chỉ xảy ra ở Việt Nam mà còn ở nhiều quốc gia khác. Chính vì vậy, nhiều doanh nghiệp nước ngoài đã sang Việt Nam tuyển lao động làm việc trong ngành thủy sản tại châu Âu, Nhật Bản và Hàn Quốc, chủ yếu trong lĩnh vực khai thác và chế biến.

Ngoài ra, sự phối hợp giữa doanh nghiệp và cơ sở đào tạo hiện vẫn còn rất hạn chế. Doanh nghiệp có nhu cầu lớn về nhân lực nhưng việc tham gia vào quá trình đào tạo còn rất hạn chế. Ở nhiều nước, doanh nghiệp bắt buộc phải tham gia đào tạo nguồn nhân lực và phải đảm bảo tỷ lệ lao động qua đào tạo theo quy định. Trong khi đó, ở Việt Nam vẫn chưa có cơ chế giám sát chặt chẽ vấn đề này.

Do đó, để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thủy sản, cần đổi mới mạnh mẽ công tác đào tạo nghề; tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, cập nhật giáo trình theo hướng hiện đại; đồng thời đẩy mạnh sự liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp. Đây sẽ là yếu tố quan trọng để ngành thủy sản phát triển bền vững trong giai đoạn tới.

bai-4-bai_1778650837.jpg
Phóng viên Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường trao đổi với PGS, TS. Thái Thanh Bình, Phó Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Kinh tế, Kỹ thuật và Thủy sản

PV: Với mục tiêu đưa thủy sản thành ngành kinh tế mũi nhọn, bền vững, hiện đại, trong đó trọng tâm là nâng cao giá trị gia tăng, giảm khai thác ven bờ, đẩy mạnh nuôi trồng (đặc biệt nuôi biển) và bảo vệ môi trường… theo ông chúng ta phải có những bước đi cụ thể gì?

PGS, TS. Thái Thanh Bình: Theo tôi, để phát triển ngành thủy sản theo hướng hiện đại, bền vững và có giá trị gia tăng cao, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó trọng tâm là chuyển đổi mô hình phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Trước hết, ngành thủy sản phải chuyển mạnh sang ứng dụng công nghệ cao, công nghệ xanh và nuôi trồng bền vững. Không còn dựa chủ yếu vào kinh nghiệm truyền thống, mà cần phát triển dựa trên khoa học công nghệ, bao gồm công nghệ sinh học, công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn… nhằm xây dựng mô hình nuôi trồng thủy sản thông minh và thân thiện với môi trường.

Thứ hai, cần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành thủy sản. Người lao động, đặc biệt là ngư dân và lao động nuôi trồng, phải được đào tạo bài bản, có kỹ năng nghề cao, kỹ năng số và hiểu biết về công nghệ mới. Chương trình đào tạo cần đổi mới toàn diện, tích hợp giữa chuyên môn, kỹ năng thực hành và chuyển đổi số trong sản xuất.

Thứ ba, cần chuyển trọng tâm từ tăng sản lượng sang tăng giá trị gia tăng. Không mở rộng diện tích hay khai thác đơn thuần, mà tập trung vào chất lượng sản phẩm, chế biến sâu, đa dạng hóa sản phẩm và giảm tổn thất sau thu hoạch. Điều này giúp nâng cao hiệu quả kinh tế và hạn chế rủi ro môi trường, dịch bệnh.

Thứ tư, phải gắn phát triển thủy sản với tiêu chuẩn quốc tế và chứng chỉ bền vững. Sản phẩm thủy sản cần đáp ứng yêu cầu của các thị trường lớn như EU, Mỹ, Nhật Bản… thông qua các chứng chỉ như MSC, ASC và các tiêu chuẩn ESG. Việc đào tạo cũng phải hướng đến đáp ứng các yêu cầu này.

Thứ năm, cần phát triển mô hình liên kết giữa nhà trường – doanh nghiệp – người dân, trong đó doanh nghiệp tham gia sâu vào đào tạo và thực hành. Đồng thời, tổ chức các lớp đào tạo lưu động tại địa phương để phù hợp với điều kiện của ngư dân.

Thứ sáu, cần đẩy mạnh chuyển đổi số trong ngành thủy sản, đặc biệt là trong khai thác, nuôi trồng và chế biến. Nhà nước và doanh nghiệp cần phối hợp đầu tư hạ tầng số, thiết bị và hệ thống quản lý thông minh.

Cuối cùng, cần có chiến lược và chương trình trọng điểm dài hạn, ví dụ như phát triển nuôi biển đến năm 2030 với mục tiêu đào tạo đội ngũ 10.000 kỹ thuật viên nuôi biển công nghệ cao, và gắn với nhu cầu thị trường xuất khẩu.

bai-2-bai_1778650606.jpg
Trụ sở Trường Cao đẳng Kinh tế, Kỹ thuật và Thủy sản

PV: Ngày 22/8/2025, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, với góc độ quản lý ông đánh giá như thế nào về Nghị quyết này, đặc biệt đối với lĩnh vực thủy sản?

PGS, TS. Thái Thanh Bình: Theo tôi, Nghị quyết 71 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo tiếp tục khẳng định giáo dục là quốc sách hàng đầu, trong đó nhấn mạnh vai trò quyết định của nguồn nhân lực đối với phát triển kinh tế – xã hội.

Nghị quyết đã làm rõ hai vấn đề quan trọng: nhận thức về nguồn nhân lực và vai trò của lao động trong phát triển kinh tế. Thực tế hiện nay, nhiều doanh nghiệp thủy sản gặp khó khăn, thậm chí thua lỗ, có nguyên nhân lớn từ chất lượng nguồn nhân lực, từ đội ngũ quản lý đến lao động trực tiếp. Ngành thủy sản đang thiếu hụt lao động có trình độ, đặc biệt do số lượng người học ít, công tác tuyển sinh hạn chế và đặc thù nghề nghiệp nặng nhọc, nguy hiểm.

Đồng thời Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, bao gồm đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp tổ chức đào tạo, đồng thời đẩy mạnh chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ trong giáo dục. Đây là định hướng rất phù hợp với ngành thủy sản, vốn là lĩnh vực cần nhiều ứng dụng công nghệ để giảm lao động thủ công, tăng tự động hóa và đảm bảo an toàn lao động.

Đối với ngành thủy sản, điều này có ý nghĩa rất lớn trong việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt trong các lĩnh vực như nuôi trồng thủy sản, sinh học biển, môi trường, công nghệ sinh học, khai thác và chế biến thủy sản thông minh. Đào tạo cần hướng đến kỹ năng thực hành, kỹ năng số và năng lực ứng dụng công nghệ.

Bên cạnh đó, cần gắn đào tạo với doanh nghiệp và thực tiễn sản xuất. Mô hình đào tạo nghề phải sát với nhu cầu thực tế, tăng thời lượng thực hành, giảm lý thuyết, đồng thời có sự tham gia của doanh nghiệp trong quá trình đào tạo. Tuy nhiên, chi phí đào tạo trong ngành thủy sản khá cao, do đặc thù nghề nghiệp và yêu cầu thực hành lớn, nên cần có cơ chế hỗ trợ phù hợp từ Nhà nước.

Một điểm quan trọng khác là chuẩn hóa kỹ năng nghề và hội nhập quốc tế. Sau đào tạo, người lao động cần được cấp chứng chỉ theo chuẩn khu vực và quốc tế (như ASEAN hoặc các chuẩn quốc tế khác), thay vì chỉ dừng ở chứng chỉ trong nước. Đồng thời, cần tăng cường kiểm định chất lượng đào tạo theo tiêu chuẩn quốc tế để nâng cao năng lực cạnh tranh của lao động Việt Nam.

Ngoài ra, ngành thủy sản cần có lộ trình phát triển nguồn nhân lực rõ ràng, gắn với các chương trình trọng điểm đến năm 2030. Trong đó, Nhà nước cần xây dựng đề án phát triển nguồn nhân lực thủy sản, tập trung vào hai lĩnh vực then chốt là nuôi trồng và chế biến, đồng thời gắn với chuyển đổi số và phát triển công nghệ cao.

Nghị quyết 71 tạo nền tảng rất quan trọng để ngành thủy sản phát triển nguồn nhân lực theo hướng hiện đại, chất lượng cao, hội nhập quốc tế và đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững trong giai đoạn tới.

PV: Xin cảm ơn ông về những phân tích rất hữu ích!

Sỹ Tùng - Mạnh Hải