Quảng Trị: Quy hoạch đô thị xanh, thích ứng với biến đổi khí hậu

Quảng Trị: Quy hoạch đô thị xanh, thích ứng với biến đổi khí hậu

Thứ hai, 16/2/2026, 07:34 (GMT+7)
logo Quảng Trị là địa phương thường xuyên phải đối mặt với nhiều loại hình thiên tai. Trước thực tế đó, công tác quy hoạch không chỉ nhằm định hình không gian đô thị và nông thôn, mà còn hướng tới xây dựng một “hệ sinh thái” có khả năng tự phục hồi, phát triển bền vững và thích ứng với các điều kiện biến đổi khí hậu đặc trưng của khu vực miền Trung. Xung quanh vấn đề quy hoạch xanh và thích ứng với biến đổi khí hậu, phóng viên Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường đã có cuộc trao đổi với ông Phạm Xuân Thảo - Viện trưởng Viện Quy hoạch xây dựng Quảng Trị.

PV: Thưa ông, trong bối cảnh biến đổi khí hậu đang tác động ngày càng rõ nét, đô thị Quảng Trị có đặc thù vừa ven biển, vừa mang tính nông thôn hóa. Với góc nhìn của người làm công tác quy hoạch, ông có ý kiến gì nhằm định hướng quy hoạch đô thị theo hướng hiện đại, đồng thời đáp ứng các tiêu chí thích ứng với môi trường và điều kiện thời tiết?

Ông Phạm Xuân Thảo: Quảng Trị là vùng đất gió Lào cát trắng, và đây không còn là hình ảnh ví von mà là thử thách khắc nghiệt hàng ngày. Với đặc thù vừa có tính chất ven biển (dễ tổn thương trước nước biển dâng, bão, lũ…), vừa mang tính nông thôn hóa (hạ tầng chưa đồng bộ, còn nhiều quỹ đất nông nghiệp xen kẽ giữa đô thị), việc quy hoạch không chỉ là vẽ ra những không gian đô thị, nông thôn, các tòa nhà hiện đại mà là để xây dựng một "hệ sinh thái" có khả năng tự phục hồi, bền vững và thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu đặc trưng của Miền Trung.

thao-2_1770954689.jpg
Việc quy hoạch là để xây dựng một "hệ sinh thái" có khả năng tự phục hồi, bền vững và thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu đặc trưng vùng miền Trung

Dưới góc độ quy hoạch, để xây dựng đô thị Quảng Trị hiện đại, xanh và thích ứng với biến đổi khí hậu, tôi cho rằng cần tập trung vào bốn yếu tố chính.

Thứ nhất, phát triển mô hình "đô thị nhân sinh và thiên nhiên": Quy hoạch cần hạn chế bê tông hóa, tăng cường các “khoảng thở” tự nhiên thông qua mảng xanh, mặt nước, tận dụng đất trống, công trình dôi dư và các dải đất ven sông, kênh, ao hồ. Đồng thời, tổ chức đô thị nén, phát triển nhà ở cao tầng tại khu vực đất cao, an toàn để dành không gian cho cây xanh và thoát lũ; hình thành các hành lang xanh, công viên ven sông ngay từ khâu quy hoạch.

Thứ hai, áp dụng chiến lược "đô thị bọt biển": Ưu tiên các giải pháp thấm nước tự nhiên như vật liệu lát đường thấm nước, hồ điều hòa, công viên thấp hơn mặt đường để giữ nước tại chỗ khi mưa lớn, giảm tải cho hệ thống thoát nước và mở rộng diện tích mặt nước đô thị.

Thứ ba, thích ứng đặc thù với khu vực ven biển: Quy hoạch cần đi trước kịch bản mực nước biển dâng, thiết lập khoảng lùi xây dựng, tuân thủ hành lang bảo vệ bờ biển, tăng cường rừng phòng hộ ven biển. Kiến trúc cần linh hoạt, có tầng trệt trống, sử dụng vật liệu bền vững, hạn chế kết cấu thép ở khu vực ven biển.

Thứ tư, đẩy mạnh số hóa quản lý đô thị: Xây dựng hệ thống cảnh báo sớm, ứng dụng công nghệ GIS để mô phỏng ngập lụt, làm cơ sở cho quản lý xây dựng và vận hành đô thị thông minh, chủ động ứng phó với thiên tai và biến đổi khí hậu.

thao.-1_1770954695.jpg
Ông Phạm Xuân Thảo (bên trái), Viện trưởng Viện Quy hoạch xây dựng Quảng Trị

PV: Trong quy hoạch đô thị hiện đại, tiêu chí “đô thị xanh” luôn được nhắc đến và có thể xem là “mô phạm”. Vậy tiêu chí đó là như thế nào, và được ứng dụng ra sao trong phát triển đô thị ở Quảng Trị?

Ông Phạm Xuân Thảo: Quá trình đô thị hóa nhanh làm gia tăng dân số đô thị, kéo theo mật độ xây dựng cao, hoạt động giao thông - công nghiệp - sinh hoạt sôi động, từ đó tiêu thụ nhiều năng lượng và phát thải khí CO₂, gây áp lực lớn lên môi trường không khí. Trong bối cảnh đó, tiêu chí “đô thị xanh” giữ vai trò then chốt.

Cây xanh được ví như “nhà máy hóa học” tự nhiên, hấp thụ CO₂ và cung cấp oxy, góp phần cải thiện chất lượng không khí. Hệ thống mặt nước như sông, ao, hồ không chỉ tạo cảnh quan mà còn đóng vai trò “hồ điều hòa”, giúp giảm úng ngập sau mưa lớn, điều hòa vi khí hậu, hấp thụ nhiệt và làm dịu tác động nắng nóng, đặc biệt hiệu quả với thời tiết gió Tây khô nóng đặc trưng miền Trung.

thao-7_1770954657.jpg
Tại Quảng Trị, tiêu chí đô thị xanh được gắn với điều kiện tự nhiên đặc thù gọi là kiến trúc “phong ấn bão cát và gió Lào”

Tại Quảng Trị, tiêu chí đô thị xanh được gắn với điều kiện tự nhiên đặc thù mà chúng tôi gọi là kiến trúc “phong ấn bão cát và gió Lào”, chịu tác động kép của bão biển và gió khô nóng. Quy hoạch các trục đường chính theo hướng Đông Bắc - Tây Nam để đón gió biển làm mát, đồng thời bố trí các khối nhà theo cụm zíc-zắc nhằm giảm áp lực gió bão. Vật liệu xây dựng ưu tiên loại chống ăn mòn muối biển, chịu gió mạnh, kết hợp mái dốc để thoát nước nhanh.

Bên cạnh đó, hệ thống sông ngòi trong đô thị được coi là “vốn quý”, vừa đưa không khí trong lành vào sâu trong đô thị, vừa hỗ trợ thoát nước, nuôi dưỡng thảm xanh và tạo nên không gian cảnh quan ven sông đặc trưng, góp phần nâng cao chất lượng sống cho người dân.

PV: Thưa ông, đô thị ven biển có nhiều lợi thế phát triển nhưng cũng tiềm ẩn không ít rủi ro khi thiên tai xảy ra. Theo ông, đâu là những giải pháp để phát triển đô thị ven biển bền vững?

Ông Phạm Xuân Thảo: Phát triển đô thị hướng ra biển là xu thế tất yếu, nhất là với các ngành du lịch, dịch vụ, nghỉ dưỡng. Tuy nhiên, thực tế cho thấy các đô thị ven biển Việt Nam đang chịu tác động ngày càng lớn của nước biển dâng, bão mạnh và triều cường, trong khi các biện pháp quản lý rủi ro hiện nay vẫn chưa đáp ứng yêu cầu.

Khu vực ven biển, đặc biệt là miền Trung, vừa là không gian sinh kế của hàng triệu người dân, vừa là “tuyến đầu” hứng chịu thiên tai. Quá trình đô thị hóa nhanh, thiếu kiểm soát đã dẫn tới sự xuất hiện dày đặc các dự án khách sạn cao tầng, resort, sân golf… làm thu hẹp không gian tự nhiên, giảm diện tích cây xanh, mặt nước, gây úng ngập và suy thoái tài nguyên môi trường. Đánh giá của Ngân hàng Thế giới cũng chỉ ra rằng, đô thị hóa nhanh, tăng trưởng kinh tế và biến đổi khí hậu đang làm gia tăng rủi ro thiên tai trong tương lai.

Để phát triển đô thị ven biển bền vững, cần chuyển mạnh sang tư duy quy hoạch tích hợp, dựa trên nguyên tắc “Xanh – Chặt chẽ – Thích ứng”, thay cho cách quy hoạch đơn ngành, manh mún. Quy hoạch phải lấy con người và hệ sinh thái làm trung tâm, đi trước các kịch bản biến đổi khí hậu.

thao-3_1770954679.jpg
Theo xu thế chung, khu vực ven biển sẽ là tâm điểm cho sự phát triển trong tương lai với sự gia tăng dân số, mở rộng các ngành công nghiệp, dịch vụ, du lịch và đô thị hóa

Bên cạnh đó, cần bảo vệ và phục hồi các vùng đệm sinh thái như rừng ngập mặn, bãi triều, đất ngập nước ven biển. Đây là những “lá chắn tự nhiên” giúp giảm sóng, chống xói lở và lọc ô nhiễm. Việc phát triển các đầm lầy nhân tạo để xử lý nước thải cũng là giải pháp hiệu quả, thân thiện với môi trường.

Trong bối cảnh bão lũ ngày càng cực đoan, các giải pháp quy hoạch “thoái lui” khỏi mép biển, kết hợp công trình chắn sóng và hạ tầng sinh thái là xu hướng cần thiết. Quy hoạch đô thị ven biển hiện đại không còn là áp đặt mô hình cứng nhắc, mà đòi hỏi tư duy linh hoạt, hệ thống, nhằm kiến tạo những đô thị vừa thịnh vượng, vừa kiên cường và đáng sống.

thao-5_1770954664.jpg
Tư duy quy hoạch tích hợp theo nguyên tắc “Xanh – Chặt chẽ – Thích ứng” lấy hệ sinh thái và con người làm trung tâm

PV: Với đô thị nông thôn, chúng ta cần có chiến lược cụ thể gì để giữ lại cảnh quan xanh đặc trưng nhưng vẫn đáp ứng tiêu chí hiện đại, thưa ông?
Ông Phạm Xuân Thảo: Đô thị hóa nông thôn không đồng nghĩa với bê tông hóa nông thôn, mà là tạo điều kiện để khu vực nông thôn tiếp cận các cơ hội phát triển mới, hội nhập quốc tế và đồng hành cùng kỷ nguyên công nghệ số. Đây là quá trình cộng sinh với đô thị, nhằm nâng cao chất lượng môi trường sống của người dân nông thôn, tiệm cận mức sống đô thị, đồng thời góp phần cân bằng phát triển trên toàn bộ không gian lãnh thổ.

Về chiến lược, trước hết cần quản lý phát triển theo hướng tích hợp liên ngành giữa đô thị - nông thôn với bảo vệ môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu. Việc kiểm soát không gian xây dựng phải dựa trên nguyên tắc đô thị hóa đất đai tương xứng với đô thị hóa dân số, bảo đảm “ngưỡng chịu tải sinh thái”, hướng tới mục tiêu văn minh sinh thái.

Song song với đó, hệ thống đô thị - nông thôn cần phát triển gắn với bảo tồn và phục hồi tài nguyên sinh thái. Cần khoanh vùng rõ các khu vực sinh thái quan trọng ở cả cấp quốc gia và địa phương, xác định ranh giới tăng trưởng đô thị để quản lý hiệu quả bằng công cụ pháp luật.

dien-gio_1770955388.jpg
Tối ưu hoá sử dụng năng lượng, thúc đẩy đô thị, nông thôn tăng trưởng xanh.

Quá trình đô thị hóa cũng phải gắn với quản lý tổng hợp tài nguyên nước, bảo đảm khai thác hợp lý, duy trì dòng chảy tối thiểu trên các lưu vực sông và phân định rõ trách nhiệm giữa các địa phương. Việc tối ưu hóa sử dụng năng lượng, thúc đẩy tăng trưởng xanh cho cả đô thị và nông thôn là yêu cầu xuyên suốt.

Bên cạnh đó, cần tiếp cận biến đổi khí hậu như một điều kiện tự nhiên mới, không chỉ là thách thức mà còn là cơ hội để hình thành các mô hình phát triển thích ứng, linh hoạt. Ở tầm quốc gia, hạn chế phát triển đô thị quy mô lớn tại các khu vực có mức độ rủi ro cao; trường hợp bắt buộc, phải ứng dụng công nghệ cao để tăng khả năng chống chịu. Ở cấp đô thị - nông thôn, cần đặt ra các chỉ tiêu cụ thể về giảm phát thải CO₂, hoàn thiện hệ thống tiêu chí an toàn, thích ứng và hỗ trợ các nhóm dân cư dễ bị tổn thương.

Cuối cùng, cần tăng cường kiểm soát ô nhiễm thông qua cơ chế cấp phép phát thải, giám sát chặt chẽ các cơ sở sản xuất - kinh doanh có nguy cơ gây ô nhiễm, nhằm bảo đảm môi trường sống xanh, bền vững cho cả đô thị và nông thôn.

db-4_1770955685.jpg
Đô thị hoá nông thôn không có nghĩa là bê tông hóa nông thôn, mà tạo cơ hội để nông thôn tiếp cận với cơ hội phát triển mới hội nhập quốc tế, đồng hành với kỷ nguyên công nghệ số

PV: Với một địa phương quanh năm chịu tác động của thiên tai lũ lụt như Quảng Trị, vấn đề quy hoạch đô thị cần đặt ra các tiêu chí gì, thưa ông?

Ông Phạm Xuân Thảo: Cùng với các giải pháp công trình, việc thiết lập vùng đệm ven biển được xem là “lá chắn” tự nhiên hiệu quả và bền vững. Theo đó, cần hình thành các dải rừng phi lao hoặc rừng ngập mặn (tùy theo điều kiện địa hình) có chiều rộng tối thiểu từ 50- 100m tính từ mép nước cao nhất. Những dải rừng này có vai trò chắn cát, giảm năng lượng sóng bão, hạn chế xói lở bờ biển và ngăn chặn xâm nhập mặn vào đất liền.

Tại Quảng Trị, bài toán thoát nước đô thị ven biển đang gặp nhiều thách thức khi bão lớn kết hợp với triều cường dâng cao làm tắc nghẽn hệ thống cống xả trực tiếp ra biển. Thực tế cho thấy, nhiều đô thị ven biển của tỉnh đã và đang đối mặt với tình trạng úng ngập kéo dài trong các đợt mưa bão lớn. Trước thực trạng này, giải pháp xây dựng hệ thống hồ điêu hòa nước mặn hoặc nước lợ ở phía Tây đô thị được xem là cần thiết. Các hồ này được kết nối liên hoàn, có chức năng tích trữ tạm thời lượng nước mưa khi triều cường dâng cao, giúp giảm áp lực cho hệ thống thoát nước và hạn chế ngập úng.

12_1770955580.jpg
Đặc khu Cồn Cỏ thiết lập một dải rừng phi lao hoặc rừng ngập mặn tùy địa hình rộng ít nhất 50-100m tính từ mép nước cao nhất, để chắn cát, sóng, bão và ngăn xâm nhập mặn vào đất liền

Hệ thống đê ngăn mặn kết hợp đường giao thông: Tuyến đường ven biển không chỉ là đường giao thông mà cần thiết kế như một con đê ngầm hoặc đê mềm, có hệ thống cống ngăn mặn một chiều để bảo vệ vùng sản xuất nông nghiệp phía trong.

Phát triển đô thị bền vững theo nguyên tắc “lấy con người làm trung tâm” nhằm thúc đẩy các sáng kiến đô thị thông minh hơn, xanh hơn, kết nối kinh tế vùng, hoà nhập xã hội, tối ưu hoá tiềm năng lãnh thổ giúp nâng cao khả năng thích ứng của đô thị Việt Nam trước thiên tai, biến đổi khí hậu.

Trân trọng cám ơn ông!

Đinh Loan