Phóng viên Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường đã có cuộc trao đổi với TS. Lê Hùng Phong, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Lúa lai (Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm), về vai trò của lúa lai trong đảm bảo an ninh lương thực, định hướng phát triển giống lúa chất lượng cao, cũng như những thách thức và giải pháp trong bối cảnh giảm phát thải khí nhà kính và thực hiện Nghị quyết 57.

PV: Xin ông cho biết lúa lai đã đóng góp như thế nào đối với an ninh lương thực của Việt Nam trong thời gian qua?
TS. Lê Hùng Phong: Như chúng ta đã biết, lúa lai được du nhập vào Việt Nam trong nghiên cứu và sản xuất đại trà từ những năm đầu thập niên 1990. Vào thời điểm đó, năng suất của các giống lúa thuần còn tương đối thấp, chỉ đạt ở mức 5 - 5,5 tấn/ha. Từ sau công cuộc đổi mới năm 1986, chúng ta đã có định hướng cải tiến giống và kỹ thuật canh tác, qua đó nâng cao năng suất sản xuất.
Tuy nhiên, để tạo ra bước đột phá về năng suất và sản lượng, góp phần quan trọng vào đảm bảo an ninh lương thực, thì lúa lai đóng vai trò rất lớn. Từ những năm 1990, khi các giống lúa lai thế hệ đầu tiên được nhập nội và đưa vào sản xuất, như các tổ hợp lai tiêu biểu, chúng đã nhanh chóng được mở rộng tại nhiều địa phương có điều kiện trồng lúa.
Có thể khẳng định rằng, lúa lai đã có đóng góp đáng kể trong việc đảm bảo an ninh lương thực cho các địa phương tham gia sản xuất, đặc biệt trong giai đoạn còn nhiều khó khăn. Đồng thời, việc nâng cao sản lượng lúa nhờ lúa lai cũng góp phần tạo nền tảng cho hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam trong những năm sau đó.
Đặc biệt, tại các vùng khó khăn như Bắc Trung Bộ và miền núi phía Bắc, lúa lai có ý nghĩa rất quan trọng trong việc đảm bảo sản lượng và ổn định đời sống cho người dân.

Phóng viên Tạp chí Nông nghiệp và Môi trường trao đổi với TS. Lê Hùng Phong, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Lúa lai (Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm)
PV: Xin ông cho biết, với vai trò là đơn vị sự nghiệp khoa học, trong thời gian qua Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Lúa lai đã chuyển giao những sản phẩm và giống lúa nào ra thị trường?
TS. Lê Hùng Phong: Là một đơn vị sự nghiệp khoa học thuộc Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm, trong những năm qua, với sự quan tâm đầu tư của Nhà nước và Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Lúa lai đã nghiên cứu và chuyển giao một số sản phẩm, giống lúa lai vào sản xuất.
Tuy nhiên, quá trình chuyển giao cũng gặp những khó khăn nhất định. Ngay từ khi thành lập, Trung tâm đã định hướng phát triển lúa lai theo hướng chất lượng. Định hướng này được xác lập rõ nét dưới thời PGS, TS. Nguyễn Trí Hoàn, nguyên Viện trưởng Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm.
Theo đó, các giống lúa lai thế hệ đầu tiên do Trung tâm chọn tạo và được công nhận giống quốc gia như HYT83, HYT100… đều là những giống có chất lượng gạo tốt. Các dòng bố mẹ của những giống này chủ yếu được nhập nội từ Trung Quốc và một số nguồn quốc tế khác để phục vụ công tác lai tạo.
Tuy nhiên, đối với các tổ hợp lúa lai có chất lượng gạo cao, việc sản xuất hạt lai F1 gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là do hạn chế của dòng mẹ trong việc nâng cao năng suất. Vì vậy, năng suất sản xuất hạt lai F1 trước đây thường chỉ đạt khoảng 1,5 - 1,8 tấn/ha. Đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến lúa lai từng bị đánh giá là có hiệu quả sản xuất hạt giống chưa cao.
Một số giống như HYT100 đã được chuyển giao cho doanh nghiệp, tiêu biểu là Công ty Nông nghiệp Công nghệ cao Hải Phòng, để tiếp nhận, nhân rộng và phát triển trong sản xuất.
Đến nay, các giống lúa lai của Trung tâm vẫn tiếp tục được phát triển theo định hướng chất lượng cao, khả năng chống chịu tốt với sâu bệnh và điều kiện thời tiết bất thuận. Một số giống đang được triển khai sản xuất như HYT124.
Đặc biệt, trong giai đoạn 2025 - 2026, Trung tâm đã được công nhận thêm hai giống lúa lai ba dòng chất lượng cao là HYT315 và HYT325. Đây là những giống có chất lượng gạo tốt, đang được phối hợp với các doanh nghiệp để phát triển và đưa vào sản xuất...

Việc ứng dụng khoa học công nghệ và chọn tạo giống đang định hướng phát triển các giống lúa chất lượng cao, góp phần nâng cao giá trị nông sản và hướng tới nền nông nghiệp bền vững
PV: Trong bối cảnh Việt Nam đang tham gia COP26 về giảm phát thải khí nhà kính, xin ông cho biết, chiến lược của Trung tâm trong vấn đề này như thế nào, đặc biệt liên quan đến phát triển lúa lai?
TS. Lê Hùng Phong: Thực tế, đối với sản xuất lúa lai thương phẩm, về cơ bản cũng tương tự như các loại lúa khác, hoàn toàn có thể áp dụng các giải pháp giảm phát thải khí nhà kính trong canh tác lúa.
Tuy nhiên, đối với diện tích sản xuất hạt giống lai F1 thì việc áp dụng các biện pháp này gặp nhiều khó khăn hơn. Ở giai đoạn đầu, một số giải pháp có thể triển khai, nhưng trên thực tế Trung tâm vẫn đang trong quá trình nghiên cứu, đánh giá cụ thể.
Nguyên nhân là trong sản xuất hạt giống lúa lai, việc gieo cấy các dòng bố và dòng mẹ phải đảm bảo quá trình trỗ bông đồng đều, trùng khớp về thời gian để đạt hiệu quả thụ phấn. Vì vậy, các yếu tố kỹ thuật như chế độ bón phân, tưới tiêu nước cần được điều chỉnh rất chặt chẽ.
Hiện nay, Trung tâm đang bắt đầu nghiên cứu các giải pháp như tối ưu quy trình bón phân, quản lý nước tưới theo hướng tiết kiệm, nhằm vừa đảm bảo yêu cầu sản xuất hạt giống, vừa hướng tới giảm phát thải.
Khó khăn lớn là phản ứng của dòng bố và dòng mẹ đối với chế độ nước và dinh dưỡng có thể khác nhau. Nếu điều chỉnh không phù hợp sẽ dẫn đến hiện tượng trỗ bông không trùng khớp, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất hạt lai. Khi triển khai trên diện tích lớn, việc điều chỉnh này đòi hỏi nhiều nhân lực, chi phí cao và gặp không ít thách thức.
Vì vậy, hiện nay Trung tâm mới đang trong giai đoạn nghiên cứu khả năng áp dụng các giải pháp giảm phát thải đối với diện tích sản xuất hạt giống lai F1.
Trong khi đó, đối với diện tích sản xuất lúa lai thương phẩm ngoài đại trà, hoàn toàn có thể áp dụng đầy đủ các giải pháp giảm phát thải khí nhà kính trong sản xuất lúa nói chung mà không có sự khác biệt đáng kể.

Việc khảo nghiệm và ứng dụng các giống lúa lai chất lượng góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, đảm bảo an ninh lương thực và hướng tới phát triển nông nghiệp bền vững
PV: Thời gian qua, Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị về khoa học công nghệ đã được phổ biến rộng rãi tới giới khoa học, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp. Vậy Nghị quyết này đã đi vào thực tiễn tại Trung tâm như thế nào, và định hướng phát triển trong thời gian tới ra sao, thưa ông?
TS. Lê Hùng Phong: Có thể nói, Nghị quyết 57 đã cụ thể hóa rõ hơn các định hướng trước đây trong chương trình phát triển nông nghiệp, đặc biệt là chương trình tái cơ cấu ngành lúa gạo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
Nếu như trước đây chúng ta tập trung nhiều vào đảm bảo an ninh lương thực, thì hiện nay mục tiêu đã chuyển sang nâng cao chất lượng và giá trị hạt gạo. Định hướng chung là chọn tạo giống lúa, trong đó có lúa lai, theo hướng chất lượng cao, đồng thời tăng khả năng chống chịu sâu bệnh, thích ứng với điều kiện môi trường và giảm thiểu tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu.
Bám sát định hướng đó, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Lúa lai đã tập trung phát triển các giống lúa lai chất lượng cao, có khả năng chống chịu sâu bệnh. Trong khoảng 10 năm trở lại đây, Trung tâm đã công nhận một số giống như HYT124 đây là các giống lúa lai có chất lượng gạo tốt, hàm lượng amylose khoảng 16 - 17%, cơm mềm, năng suất có thể đạt khoảng 80 - 8,5 tạ/ha trong điều kiện thâm canh.
Đặc biệt, trong giai đoạn 2025 - 2026, Trung tâm đã được công nhận thêm hai giống lúa lai ba dòng mới là HYT315 và HYT325. Các giống này có hàm lượng amylose thấp hơn, khoảng 12 - 17%, hạt gạo dài trên 7 mm, cơm mềm dẻo, có mùi thơm nhẹ, đáp ứng tốt nhu cầu thị trường hiện nay.
Qua thực tế triển khai sản xuất thử tại các địa phương như Thanh Hóa, Nghệ An, Tuyên Quang, Phú Thọ, Thái Nguyên, các giống lúa lai này đều được đánh giá cao về năng suất và chất lượng.
Hiện nay, diện tích lúa lai trên cả nước có xu hướng giảm, còn khoảng 350.000 - 400.000 ha/năm, chủ yếu tập trung ở khu vực phía Bắc, Bắc Trung Bộ và trung du miền núi phía Bắc. Trong khi đó, vùng đồng bằng sông Hồng chủ yếu chuyển sang sản xuất các giống lúa thuần chất lượng cao.
Về nghiên cứu và phát triển lúa lai chất lượng, hiện nay tập trung chủ yếu tại hai đơn vị lớn là Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm (trong đó có Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Lúa lai) và Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Trước đây cũng đã có nhiều giống lúa lai chất lượng được phát triển như HQ19 hay Lai thơm 6 (LT6), góp phần tạo chỗ đứng cho lúa lai chất lượng trên thị trường.
Như vậy, có thể thấy Nghị quyết 57 đã cụ thể hóa thêm các mục tiêu đã được đặt ra trong chương trình tái cơ cấu ngành lúa gạo, đồng thời tạo động lực để các đơn vị nghiên cứu, trong đó có Trung tâm, tiếp tục đẩy mạnh chọn tạo và phát triển các giống lúa lai chất lượng cao, nâng cao giá trị và sức cạnh tranh của gạo Việt Nam trong thời gian tới.
PV: Xin trân trọng cảm ơn ông về những chia sẻ rất hữu ích!