news
Từ rừng, lúa đến xe điện, Việt Nam bước vào nền kinh tế các-bon thấp

Từ rừng, lúa đến xe điện, Việt Nam bước vào nền kinh tế các-bon thấp

Chủ nhật, 31/5/2026, 06:18 (GMT+7)
logo Trong bối cảnh thế giới bước vào kỷ nguyên Net Zero, Việt Nam đang từng bước hình thành thị trường các-bon nội địa với nền tảng pháp lý, cơ chế giao dịch và định hướng phát triển ngày càng rõ nét. Theo PGS, TS. Nguyễn Đình Thọ - Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường, thị trường các-bon không chỉ là công cụ giảm phát thải khí nhà kính mà còn là “công cụ tài chính khí hậu toàn diện”, góp phần thúc đẩy tăng trưởng xanh, nâng cao năng lực cạnh tranh và hỗ trợ quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế phát thải thấp.
mr-tho_1779871834.jpg
PGS, TS. Nguyễn Đình Thọ - Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường

Hình thành nền tảng pháp lý cho thị trường các-bon nội địa

Trong hơn hai thập kỷ qua, thị trường các-bon đã phát triển mạnh tại nhiều nền kinh tế lớn trên thế giới. Từ châu Âu, Mỹ đến các quốc gia châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc hay Singapore, cơ chế định giá các-bon đang trở thành một trong những công cụ quan trọng để điều tiết phát thải khí nhà kính và thúc đẩy chuyển đổi sang nền kinh tế xanh.

Theo PGS, TS. Nguyễn Đình Thọ - Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường, thị trường các-bon được hình thành nhằm “thúc đẩy các cơ chế giảm phát thải khí nhà kính thông qua các công cụ định giá các-bon”. Cơ chế này cho phép các tổ chức, doanh nghiệp giao dịch hạn ngạch phát thải dựa trên mức phát thải thực tế so với mức phát thải được cấp phép. Đơn vị phát thải thấp hơn mức phân bổ có thể bán phần chênh lệch cho đơn vị phát thải vượt mức, qua đó hình thành một thị trường có giá trị kinh tế và tạo động lực chuyển đổi công nghệ sạch.

Theo nghiên cứu “Thị trường các-bon: Cơ hội và tiềm năng”, thị trường các-bon là “công cụ tài chính khí hậu toàn diện, góp phần thực hiện chiến lược toàn diện ứng phó biến đổi khí hậu, nâng cao chất lượng tăng trưởng, hướng tới nền kinh tế phát thải thấp, bảo đảm phát triển kinh tế nhanh, bền vững”. PGS, TS. Nguyễn Đình Thọ cho biết, thị trường các-bon toàn cầu đã đạt giá trị khoảng 104 tỷ USD năm 2023 và hơn 102,2 tỷ USD năm 2024. Theo ông, “tham gia thị trường các-bon không còn là lựa chọn riêng lẻ của từng quốc gia mà dần trở thành yêu cầu bắt buộc để đảm bảo cạnh tranh và hội nhập kinh tế toàn cầu”.

Trong xu thế đó, Việt Nam đã thể hiện cam kết mạnh mẽ thông qua mục tiêu đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 tại COP26. Theo nghiên cứu, thị trường các-bon nội địa được xác định là “một trụ cột quan trọng nhằm huy động nguồn lực xã hội và định hướng hành vi phát thải của các chủ thể kinh tế”.

Để hiện thực hóa mục tiêu này, Việt Nam đã từng bước xây dựng hành lang pháp lý cho thị trường các-bon thông qua: Luật Bảo vệ môi trường năm 2020; Nghị định số 06/2022/NĐ-CP về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ô-dôn; Nghị định số 119/2025/NĐ-CP sửa đổi Nghị định số 06/2022/NĐ-CP; Quyết định số 232/QĐ-TTg về phê duyệt Đề án Thành lập và phát triển thị trường các-bon tại Việt Nam.

Theo PGS, TS. Nguyễn Đình Thọ, Nghị định số 06/2022/NĐ-CP được ban hành nhằm “thiết lập khung pháp lý ban đầu, đặt nền móng cho tổ chức và vận hành thị trường”. Trong khi đó, Nghị định số 119/2025/NĐ-CP đã cụ thể hóa các quy trình triển khai trên thực tế, xác định rõ đối tượng tham gia, cơ sở pháp lý cho cấp và phân bổ hạn ngạch phát thải trong giai đoạn đầu. Đặc biệt, Quyết định số 232/QĐ-TTg đã xác định rõ lộ trình phát triển thị trường các-bon từ năm 2025 đến năm 2030, bao gồm: xây dựng hạ tầng kỹ thuật, hoàn thiện cơ sở dữ liệu, triển khai thí điểm và tiến tới vận hành chính thức.

Theo nghiên cứu, khi thị trường các-bon nội địa chính thức đi vào hoạt động từ cuối năm 2025, “hệ thống giao dịch tín chỉ các-bon sẽ vận hành tương tự như sàn chứng khoán”. Các doanh nghiệp sẽ tham gia như những chủ thể thị trường, thực hiện giao dịch, bù trừ, mua bán hạn ngạch và tín chỉ phát thải, từ đó tạo động lực đổi mới công nghệ và tái cấu trúc sản xuất theo hướng phát thải thấp. Theo PGS, TS. Nguyễn Đình Thọ, việc hình thành thị trường các-bon nội địa không chỉ giúp thực hiện mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính mà còn tạo ra “công cụ tài chính mới gắn liền với phát triển xanh”.

bna_do-che-phu-rung-tai-nghe-an-dat-muc-cao.-anh-quang-an_1779871954.jpg
Rừng tự nhiên tại Nghệ An - một trong những địa phương có tỷ lệ che phủ rừng cao của Việt Nam. Theo nghiên cứu của PGS, TS. Nguyễn Đình Thọ, lĩnh vực lâm nghiệp được xem là một trong những nguồn tiềm năng quan trọng để Việt Nam phát triển tín chỉ các-bon và thúc đẩy nền kinh tế phát thải thấp

Tiềm năng lớn từ rừng, nông nghiệp, năng lượng tái tạo và giao thông điện hóa

Theo PGS, TS. Nguyễn Đình Thọ, Việt Nam có “tiềm năng lớn từ các lĩnh vực như rừng, nông nghiệp, năng lượng tái tạo và giao thông điện hóa để tạo tín chỉ các-bon”. Đây được xem là một trong những lợi thế quan trọng của Việt Nam trong quá trình xây dựng thị trường các-bon.

Nghiên cứu cho biết, tỷ lệ che phủ rừng của Việt Nam hiện trên 42%, cùng khả năng gia tăng trữ lượng thông qua phát triển, bảo vệ và làm giàu rừng góp phần quan trọng trong hấp thụ khí nhà kính. Các chương trình REDD+ tại khu vực Bắc Trung Bộ đã chứng minh năng lực kỹ thuật và cơ chế thực hiện khả thi khi trao đổi thành công 10,3 triệu tấn CO2 kết quả giảm phát thải từ rừng, mang về khoảng 51,5 triệu USD.

Theo PGS, TS. Nguyễn Đình Thọ, Đề án 1 triệu ha lúa chuyên canh chất lượng cao, phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long “đang có nhiều triển vọng”. Ngoài lĩnh vực lâm nghiệp và nông nghiệp, Việt Nam cũng đã có hơn 300 dự án đăng ký theo cơ chế phát triển sạch (CDM), trong đó khoảng 150 dự án được cấp tín chỉ với tổng lượng phát thải cắt giảm hơn 40,2 triệu tấn CO2.

Theo nghiên cứu, Việt Nam hiện là một trong bốn quốc gia có số lượng dự án CDM nhiều nhất thế giới, sau Trung Quốc, Brazil và Ấn Độ; đồng thời đứng thứ 9 trong tổng số 80 quốc gia có dự án CDM được cấp tín chỉ các-bon. Các dự án tập trung chủ yếu vào: năng lượng tái tạo, tiết kiệm năng lượng, quản lý chất thải và các lĩnh vực giảm phát thải khác.

PGS, TS. Nguyễn Đình Thọ nhận định thị trường các-bon được xây dựng bài bản sẽ “hỗ trợ mạnh mẽ cho cam kết giảm phát thải ròng về ‘0’ vào năm 2050 của Việt Nam”. Theo ông, cơ chế này sẽ thúc đẩy: chuyển giao công nghệ, tạo động lực đầu tư cho các dự án năng lượng sạch và giúp tăng cường năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp trong xu thế toàn cầu hóa sản xuất xanh ngày càng rõ rệt.

Nghiên cứu cũng cho rằng các doanh nghiệp tiếp cận thị trường các-bon sớm có thể tạo lợi thế kinh tế nhờ chi phí tuân thủ thấp và nguồn tài chính từ giao dịch tín chỉ. Đáng chú ý, theo PGS, TS. Nguyễn Đình Thọ, thị trường các-bon còn đóng vai trò như một “bộ lọc tiêu chuẩn” giúp doanh nghiệp đáp ứng các yêu cầu quốc tế ngày càng khắt khe như: Cơ chế điều chỉnh biên giới các-bon (CBAM) của Liên minh châu Âu; Chỉ thị báo cáo bền vững doanh nghiệp (CSRD); Quy định chống phá rừng EUDR và cơ chế trách nhiệm doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng theo CSDDD.

Theo nghiên cứu, tác động của thị trường các-bon không chỉ dừng ở phạm vi doanh nghiệp mà còn tạo ra làn sóng tái định hình dòng vốn đầu tư toàn cầu. Dẫn báo cáo của Climate Policy Initiative năm 2023, nghiên cứu cho biết tổng vốn đầu tư khí hậu toàn cầu đã đạt khoảng 1,9 nghìn tỷ USD, trong đó: năng lượng chiếm 834 tỷ USD, giao thông chiếm 545 tỷ USD, xây dựng và hạ tầng gần 300 tỷ USD.

Theo PGS, TS. Nguyễn Đình Thọ, khi thị trường các-bon vận hành ổn định, Việt Nam có cơ hội thu hút một phần dòng vốn này để phát triển: năng lượng tái tạo, xử lý nước thải, phát triển rừng, tối ưu hóa hệ thống giao thông và sản xuất xanh.

Trong bối cảnh thế giới bước vào kỷ nguyên Net Zero, thị trường các-bon đang trở thành một phần quan trọng của nền kinh tế xanh toàn cầu. Từ rừng, nông nghiệp đến xe điện và năng lượng tái tạo, Việt Nam đang từng bước xây dựng những nền móng đầu tiên cho nền kinh tế các-bon thấp. Nếu tận dụng tốt các lợi thế sẵn có và hoàn thiện được hệ thống giao dịch minh bạch, Việt Nam không chỉ có cơ hội tham gia sâu hơn vào thị trường các-bon quốc tế mà còn có thể trở thành một trong những trung tâm phát triển xanh mới của ASEAN.

Hướng tới hệ sinh thái tài chính các-bon và hệ thống giao dịch hiện đại

Theo PGS, TS. Nguyễn Đình Thọ, thị trường các-bon không chỉ là nơi giao dịch tín chỉ phát thải mà còn mở ra khả năng hình thành hệ sinh thái tài chính xanh tại Việt Nam. Nghiên cứu cho biết, các tổ chức tài chính trung gian có thể phát triển nhiều sản phẩm như: trái phiếu xanh, quỹ tín chỉ các-bon, bảo hiểm rủi ro phát thải và các sản phẩm tài chính tích hợp tín chỉ các-bon.

Theo nghiên cứu, các khoản vay gắn với kết quả giảm phát thải, cơ chế tài trợ theo mô hình quỹ quay vòng hay các công cụ tài chính hỗn hợp kết hợp tín chỉ các-bon với vốn cổ phần đều có tiềm năng phát triển tại Việt Nam. Đặc biệt, nghiên cứu dành nhiều nội dung phân tích về tín chỉ xe điện và tiêu chuẩn nhiên liệu các-bon thấp (LCFS).

Theo PGS, TS. Nguyễn Đình Thọ, tín chỉ xe điện tại Việt Nam có thể được xây dựng dựa trên khung LCFS và NEV của California và Trung Quốc. Theo đó, hệ thống đo đếm điện năng sạc có thể tích hợp qua đồng hồ thông minh; doanh nghiệp vận hành trạm sạc sẽ gửi dữ liệu định kỳ cho cơ quan giám sát các-bon; mỗi kWh điện từ nguồn sạch dùng để sạc xe điện sẽ tạo tín chỉ sau khi được kiểm chứng.

ng_t_ng_t_trong_man_b_i_b_n_1779872128.jpg
Ô nhiễm không khí tại đô thị - một trong những thách thức lớn đặt ra yêu cầu giảm phát thải khí nhà kính và thúc đẩy chuyển đổi sang nền kinh tế các-bon thấp tại Việt Nam.

PGS, TS. Nguyễn Đình Thọ cho rằng, tín chỉ xe điện “có thể đóng vai trò trung tâm trong chiến lược giảm phát thải ngành giao thông”. Theo nghiên cứu, Việt Nam có thể triển khai chương trình thử nghiệm tại: TP. Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Cần Thơ, Đà Nẵng, Huế. Bên cạnh phát triển sản phẩm tài chính xanh, nghiên cứu cũng nhấn mạnh vai trò của hệ thống giao dịch hiện đại trong vận hành thị trường các-bon.

Theo PGS, TS. Nguyễn Đình Thọ, Nhật Bản đã xây dựng nền tảng giao dịch tín chỉ dựa trên các tiêu chí chuẩn hóa cao nhằm bảo đảm: tính minh bạch, minh định quyền sở hữu, kiểm soát chất lượng tín chỉ và phân loại rõ ràng theo từng loại dự án. Trong khi đó, Hàn Quốc là quốc gia Đông Á đầu tiên triển khai hệ thống giao dịch phát thải bắt buộc trên toàn quốc, với phạm vi bao phủ gần 80% tổng lượng khí nhà kính phát thải vào năm 2022.

Theo nghiên cứu, Việt Nam có thể xem xét liên kết thị trường trong nước với các tiêu chuẩn quốc tế như: ITMOs, CDMs, JCM, CORSIA, Verra, Gold Standard, GCC, ISO. PGS, TS. Nguyễn Đình Thọ nhận định, nếu xây dựng được hạ tầng giao dịch đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế, Việt Nam có thể: thu hút dòng vốn quốc tế, đẩy mạnh phát triển các dự án hấp thụ và giảm phát thải chất lượng cao, đồng thời tạo môi trường đầu tư minh bạch và bền vững.

Theo nghiên cứu, Việt Nam đang sở hữu điều kiện tự nhiên và hệ sinh thái phong phú để phát triển tín chỉ các-bon trong các lĩnh vực: nông nghiệp thông minh, năng lượng tái tạo, phục hồi rừng, bảo vệ rạn san hô và sinh cảnh biển. Những tín chỉ tạo ra từ các dự án này có thể được chuẩn hóa theo tiêu chí quốc tế và đưa vào giao dịch trong nước cũng như quốc tế thông qua hệ thống giao dịch hiện đại.

 

Hồng Minh