Sáng ngày 23/01, Bộ Nông nghiệp và Môi trường (Bộ NN&MT) - Văn phòng phía Nam tại TP. Hồ Chí Minh đã tổ chức Họp báo thông tin về kết quả thực hiện nhiệm vụ năm 2025 và định hướng trọng tâm năm 2026 của ngành nông nghiệp, môi trường.
Phát biểu tại buổi Họp báo, Thứ trưởng Bộ NN&MT Phùng Đức Tiến nhấn mạnh, năm 2025 là một năm đặc biệt khó khăn đối với ngành nông nghiệp khi phải đối mặt đồng thời với thiên tai cực đoan, dịch bệnh và những biến động phức tạp của tình hình chính trị - kinh tế quốc tế.
Trong bối cảnh đó, Chính phủ đã liên tục ban hành các chỉ thị, giải pháp điều hành linh hoạt, kịp thời, giúp ngành nông nghiệp chủ động thích ứng với thực tiễn. Tại hội nghị tổng kết ngành năm 2025, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục khẳng định ngành nông nghiệp và môi trường là “trụ cột, trụ đỡ” của nền kinh tế quốc dân.
Nhờ sự chỉ đạo quyết liệt và đồng bộ, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản (NLTS) năm 2025 ghi nhận nhiều kết quả tích cực… Tính riêng tháng 12/2025, kim ngạch xuất khẩu NLTS ước đat 6,21 tỷ USD, tăng 9,7% so với tháng trước và tăng 7,9% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế cả năm 2025, tổng kim ngạch xuất khẩu NLTS đạt 70,09 tỷ USD, tăng 12% so với năm trước… Trong đó, giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông sản đạt 37,25 tỷ USD, tăng 13,7%; giá trị xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi đạt 627,8 triệu USD, tăng 17,4%; giá trị xuất khẩu thủy sản đạt 11,32 tỷ USD, tăng 12,7%; giá trị xuất khẩu lâm sản đạt 18,5 tỷ USD, tăng 6,6%...
Xét theo vùng lãnh thổ, châu Á là thị trường xuất khẩu lớn nhất của các mặt hàng NLTS của Việt Nam với thị phần chiếm 45,2%. Với 2 thị trường lớn tiếp theo là châu Mỹ và châu Âu, với thị phần lần lượt là 22,8% và 13,2%. Thị phần của 2 khu vực châu Phi và châu Đại Dương nhỏ, chiếm lần lượt 2,7% và 1,4%. So với năm trước, ước giá trị xuất khẩu NLTS của Việt Nam cả năm 2025 sang khu vực châu Á tăng 5,8%; châu Mỹ tăng 7,2%; châu Âu tăng 34,2%; châu Phi tăng 68,1%; và châu Đại Dương tăng 9%.
Còn xét theo thị trường chi tiết, Trung Quốc với thị phần 22,3%, Hoa Kỳ với thị phần 20,6% và Nhật Bản với thị phần 7,1%... là 3 thị trường xuất khẩu các mặt hàng NLTS lớn nhất của Việt Nam. So với năm trước, ước giá trị xuất khẩu NLTS của Việt Nam cả năm 2025 sang thị trường Trung Quốc tăng 15,9%, Hoa Kỳ tăng 5,4%, và Nhật Bản tăng 20,5%.
Trong số này có một số mặt hàng chính, chủ lực tăng trưởng mạnh… Cụ thể, đối với xuất khẩu cà phê cả năm 2025 đạt 1,5 triệu tấn, kim ngạch 8,57 tỷ USD, tăng tới 52,5% về giá trị, với giá xuất khẩu bình quân đạt hơn 5.630 USD/tấn, tăng 34,8% so với năm trước; hạt điều đạt 5,19 tỷ USD, tăng 19,6%; hạt tiêu đạt 1,64 tỷ USD, tăng 24,9%... Tuy nhiên, ngược lại một số ngành hàng gặp khó khăn như cao su, chè và đặc biệt là gạo. Cụ thể, xuất khẩu gạo năm 2025, đạt 7,9 triệu tấn, kim ngạch 4,02 tỷ USD, giảm 29,1% về giá trị so với năm trước. Trong đó, Philippines tiếp tục là thị trường lớn nhất, với thị phần chiếm 38,5%. Gana và Bờ Biển Ngà là hai thị trường lớn tiếp theo với thị phần tương ứng là 12,7% và 11,7%.
Còn đối với hàng rau quả tiếp tục là điểm sáng khi kim ngạch xuất khẩu đạt 8,56 tỷ USD, tăng 19,8% so với năm trước, chủ yếu xuất sang thị trường các nước như Trung Quốc với tỷ trọng giá trị xuất khẩu chiếm 64,2%, Hoa Kỳ và Hàn Quốc lần lượt với tỷ trọng giá trị xuất khẩu là 6,4% và 3,7%. Đặc biệt, riêng ngành hàng thủy sản cao nhất, với giá trị xuất khẩu của tháng 12/2025 ước đạt 1 tỷ USD, đưa tổng giá trị xuất khẩu hàng thủy sản năm 2025 đạt 11,32 tỷ USD, tăng 12,7% so với năm trước. trong đó, với 3 thị trường tiêu thụ lớn nhất là Trung Quốc, Hoa Kỳ và Nhật Bản chiếm thị phần lần lượt là 20,1%, 17,3% và 15,1%...
Ở chiều ngược lại, kim ngạch nhập khẩu NLTS năm 2025 ước đạt 49,36 tỷ USD, tăng 10,1% so với năm trước, chủ yếu phục vụ sản xuất, chế biến và tái xuất. Các thị trường cung cấp lớn nhất gồm Trung Quốc, Hoa Kỳ và Argentina, với thị phần lần lượt là 10,1%, 9,2% và 6,6%...
Về nhiệm vụ trọng tâm năm 2026, Thứ trưởng Bộ NN&MT Phùng Đức Tiến cho biết, năm 2026 được dự báo tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, nhất là tác động của biến đổi khí hậu, suy giảm tài nguyên, ô nhiễm môi trường và suy thoái đa dạng sinh học… ảnh hưởng đến an ninh lương thực và sinh kế của người dân.
Trước những thách thức đó, Bộ NN&MT đặt mục tiêu năm 2026 là tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, nâng cao khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu; đồng thời phát huy hiệu quả nguồn lực đất đai, nước, rừng và đa dạng sinh học phục vụ phát triển nông nghiệp bền vững và kinh tế - xã hội đất nước.
Theo Thứ trưởng Phùng Đức Tiến, toàn ngành phấn đấu tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt từ 73 - 74 tỷ USD. Trong đó, nhóm hàng nông sản khoảng 40 tỷ USD (tăng 7,2%), thủy sản khoảng 12 tỷ USD (tăng 7,6%), lâm sản và đồ gỗ khoảng 18,8 tỷ USD (tăng 3,6%)... Để tăng trưởng bền vững, Bộ NN&MT chuyển trọng tâm từ tăng sản lượng sang nâng cao giá trị gia tăng, triển khai đồng bộ chuỗi giải pháp từ vùng nguyên liệu - tiêu chuẩn - chế biến - logistics - thị trường.
Cùng với đó, Bộ NN&MT còn tập trung vào các giải pháp trọng tâm, như chuẩn hóa vùng nguyên liệu theo “đơn hàng thị trường”; mở rộng mã số vùng trồng, ao nuôi, quản lý chất lượng, truy xuất nguồn gốc; đẩy mạnh chế biến sâu và đa dạng hóa sản phẩm; giảm chi phí logistics để tăng biên giá trị, thông qua phát triển kho lạnh và chuỗi lạnh; nâng cao năng lực tiếp cận thị trường, xây dựng thương hiệu quốc gia; thúc đẩy chuyển đổi xanh và sản xuất phát thải thấp; tăng năng lực tài chính, quản trị rủi ro, bảo hiểm nông nghiệp...
Thứ trưởng Phùng Đức Tiến nhấn mạnh, với nền tảng vững chắc đã được tạo dựng trong hơn 40 năm đổi mới của nông nghiệp Việt Nam, cùng sự đồng hành của Nhà nước, doanh nghiệp và người nông dân… xuất khẩu nông, lâm, thủy sản Việt Nam có đủ cơ sở để tiếp tục bứt phá, đóng góp tích cực cho phát triển kinh tế - xã hội đất nước trong giai đoạn tới.