Những năm gần đây, vấn đề đảm bảo an ninh năng lượng, phát triển bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu trở thành những vấn đề quan tâm của toàn cầu và Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng nghiêm trọng và các nguồn tài nguyên thiên nhiên đang dần cạn kiệt, việc chuyển đổi sang mô hình phát triển bền vững là yêu cầu cấp bách đối với tất cả các quốc gia trong đó bao gồm Việt Nam. Tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải khí nhà kính không chỉ là những xu hướng toàn cầu mà còn là định hướng phát triển của Việt Nam. Để thực hiện thành công những mục tiêu này, việc định hướng sản xuất đóng vai trò then chốt trong quá trình chuyển đổi kinh tế và môi trường, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến việc đưa khoa học và công nghệ (KH&CN). Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) đã triển khai các chương trình KH&CN cấp quốc gia (KC) liên quan, căn cứ vào các nội dung tại những Chương trình KC này, các tổ chức, cá nhân có thể đề xuất nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và công nghệ liên quan đến tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn, giảm phát thải khí nhà kính tại Việt Nam, hướng tới mục tiêu Net Zero tại Việt Nam.
Theo Quyết định số 888/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 25/7/2022 về việc Phê duyệt Đề án về những nhiệm vụ, giải pháp triển khai kết quả Hội nghị lần thứ 26 các bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (1) và tại Quyết định 896/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu giai đoạn đến năm 2050 ban hành ngày 26/7/2022 đã nêu rõ “Xây dựng và triển khai các nhiệm vụ, giải pháp toàn diện ứng phó với biến đổi khí hậu và chuyển dịch năng lượng nhằm thực hiện cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050”.
Chuyển dịch năng lượng nhằm đạt mục tiêu Net Zero là trọng tâm của các chính sách môi trường toàn cầu, không chỉ liên quan đến việc giảm thiểu phát thải khí nhà kính, mà còn đòi hỏi các quốc gia phát triển hệ thống năng lượng bền vững, tận dụng các nguồn năng lượng tái tạo và áp dụng công nghệ tiên tiến. Việt Nam cũng như nhiều quốc gia khác đã cam kết với các mục tiêu toàn cầu về giảm phát thải khí nhà kính thông qua các hiệp định như Thỏa thuận Paris.
Lá Lốt (Piper sarmentosum) là loài thực vật phổ biến được dùng như một loại rau trong bữa ăn hàng ngày với nhiều công dụng có lợi cho sức khỏe. Đã có nhiều nghiên cứu về cây lá Lốt nhưng chủ yếu trên các cao chiết methanol, nước, ethyl acetate, chloroform. Đối với tinh dầu lá Lốt, các thông tin khoa học vẫn còn rất hạn chế.
Nghiên cứu giúp đánh giá hiệu quả của hệ thống xử lý nước thải tại một công ty cảng nằm bên bờ phải sông Đồng Nai, tỉnh Bình Dương. Nước thải phát sinh từ các hoạt động sinh hoạt và sản xuất tại cảng chứa hàm lượng dầu mỡ khoáng và các hợp chất hữu cơ, cùng với hàm lượng Nitơ cao, đòi hỏi công nghệ xử lý hiệu quả.
Bài báo “Nhà máy Nhiệt điện Thái Bình (NMNĐTB) tuân thủ các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường hướng tới kinh tế tuần hoàn và phát triển bền vững” đã thống kê được hiện trạng các hồ sơ liên quan tới BVMT mà nhà máy đã thực hiện. Nghiên cứu đã xác định được một số giải pháp hướng tới kinh tế tuần hoàn và phát triển bền vững của NMNĐTB.
Sự có mặt của vi nhựa trong trầm tích vùng ven biển được xem là một vấn đề ô nhiễm mới nổi. Ở Việt Nam, các nghiên cứu vi nhựa trong môi trường trầm tích ven biển còn khá ít. Công trình này trình bày về mật độ và tính chất của vi nhựa trong trầm tích khu vực đầm phá Tam Giang.
Nguồn nguyên liệu từ sợi thiên nhiên rất dồi dào và phong phú ở nước ta. Các loại sợi thiên nhiên có ưu điểm là thân thiện môi trường và dễ phân hủy sinh học, đã được nghiên cứu và ứng dụng làm vật liệu composite.
Nguồn học liệu mở được xây dựng dựa trên nhu cầu thực tiễn trong công tác giảng dạy tại khoa Hệ thống Thông tin và Viễn thám - Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường TP. Hồ Chí Minh.
Sự phân mảnh môi trường sống nói chung và phân mảnh rừng nói riêng thường được định nghĩa là một quá trình, trong đó, một vùng môi trường sống bị biến đổi thành một số vùng nhỏ hơn có tổng diện tích nhỏ hơn, bị tách biệt, xen kẽ nhau bởi các môi trường sống không giống như ban đầu (1).
Kết quả quan trắc chất lượng không khí tại công ty cảng trên sông Đồng Nai cho thấy môi trường làm việc được kiểm soát hiệu quả với các chỉ số chất lượng không khí, nhiệt độ, độ ẩm, độ ồn, và các chất ô nhiễm đều nằm trong giới hạn cho phép của các quy chuẩn quốc gia như QCVN 05:2013/BTNMT, QCVN 26:2010/BTNMT, QCVN 26:2016/BYT, QCVN 02:2019/BYT, và QCVN 03:2019/BYT.
Bài báo này phân tích tình hình sử dụng và xử lý nước thải tại một nhà máy chế biến cao su, nơi nguồn nước chủ yếu đến từ nước ngầm, nước mặt sông Thị Tính và tái sử dụng nước thải sau xử lý. Tại nhà máy, lượng nước thải sử dụng cho sản xuất chiếm hơn 92% tổng lượng nước thải phát sinh. Hệ thống xử lý nước thải của nhà máy có công suất thiết kế 2,000 m³/ngày.
Nước thải từ vệ sinh trục máy in và xử lý bụi sơn chứa nhiều hóa chất độc hại như dung môi, kim loại nặng, và các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi. Nếu không được xử lý đúng cách, có thể gây ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước ngầm, bề mặt và đất, ảnh hưởng đến sinh vật thủy sinh và cây trồng, cũng như gây ra các vấn đề về sức khỏe cho con người.
Tóm tắt: Nhóm nghiên cứu là các giảng viên và sinh viên đến từ khoa Môi trường, trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội đã triển khai thực hiện nhiều nghiên cứu tại các địa phương về đánh giá nhận thức, thái độ, hành vi của người dân về quản lý CTRSH quy định trong luật bảo vệ môi trường năm 2020 ở một số tỉnh miền Bắc Việt Nam, đồng thời, phối hợp cùng địa phương tổ chức một số hội nghị tuyên truyền, chia sẻ kiến thức về BVMT, cũng như hướng dẫn người dân cách phân loại CTRSH tại hộ gia đình theo quy định.
Thủy ngân được biết đến là một kim loại nặng rất độc, tồn tại lâu dài trong môi trường đất, và gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái và sức khỏe con người. Nghiên cứu về đặc điểm đất ô nhiễm thủy ngân và các phương pháp xử lý là cần thiết nhằm góp phần vào việc loại bỏ ô nhiễm thủy ngân và bảo vệ môi trường.
Trong những năm qua, quá trình CNH-HĐH đất nước đã đưa nền kinh tế Việt Nam phát triển nhanh chóng: GDP của Việt Nam luôn duy trì mức tăng trưởng, ở tất cả các địa phương, góp phần làm diện mạo đất nước ngày càng thay đổi, mạng lưới cơ sở hạ tầng ngày càng được hoàn thiện, đồng bộ, hiện đại. Tuy nhiên, mặt trái của quá trình đó là tình trạng ô nhiễm môi trường, đặc biệt là môi trường nước ở nước ta ngày càng ngày càng nghiêm trọng. Ô nhiễm môi trường nước ở Việt Nam xuất phát từ những chất thải công nghiệp, nông nghiệp và rác thải sinh hoạt; trong khi hệ thống cơ sở hạ tầng thiếu đồng bộ, các giải pháp pháp bảo vệ môi trường chưa đi trước một bước nên dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường, trong đó có môi trường nước.
Đánh giá thực trạng công tác tạo lập, phát triển, quản lý, khai thác quỹ đất quận Bắc Từ Liêm, TP. Hà Nội đề cập đến việc sử dụng nghiên cứu khoa học vào thực tế trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm, TP. Hà Nội - Đây là một vấn đề rất cần thiết trong việc quản lý tài nguyên đất đai và phát triển kinh tế - xã hội và đề xuất một số giải pháp tạo lập, phát triển, quản lý, khai thác quỹ đất hiệu quả trong đó đánh giá kết quả thực trạng công tác tạo lập, phát triển, quản lý, khai thác quỹ đất quận Bắc Từ Liêm, TP. Hà Nội có khả năng nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về đất đai.