news
Bài 16: Từ bảo tồn thiên nhiên đến sinh kế bền vững cộng đồng ở Vườn quốc gia Xuân Thủy
Giữ rừng và bảo tồn đa dạng sinh học - nền tảng phát triển bền vững

Bài 16: Từ bảo tồn thiên nhiên đến sinh kế bền vững cộng đồng ở Vườn quốc gia Xuân Thủy

Thứ ba, 27/1/2026, 06:51 (GMT+7)
logo Một buổi sáng mùa đông, khi thủy triều bắt đầu rút dần khỏi vùng cửa Ba Lạt, những bãi bồi mênh mang của Vườn quốc gia Xuân Thủy dần hiện ra trong làn sương mỏng. Từng đàn chim nước nối nhau sà xuống kiếm ăn, tạo nên nhịp sống đặc trưng của một hệ sinh thái đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế. Ít ai biết rằng, phía sau bức tranh thiên nhiên yên bình ấy là những nỗ lực bền bỉ, lặng thầm của lực lượng làm công tác bảo tồn – những người đang ngày ngày giữ gìn “lá phổi xanh” của vùng châu thổ sông Hồng.

LTS: Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng khốc liệt, thiên tai, suy thoái môi trường và suy giảm đa dạng sinh học đang trở thành những thách thức toàn cầu. Việc bảo vệ và phát triển rừng gắn với bảo tồn đa dạng sinh học không chỉ là trách nhiệm của một ngành, mà là sự lựa chọn chiến lược của Quốc gia. Việt Nam, với hệ thống rừng đặc dụng, phòng hộ và các vườn Quốc gia trải dài từ Bắc tới Nam, đang nắm giữ một kho tàng thiên nhiên vô giá.
Tuyến bài “Giữ rừng và bảo tồn đa dạng sinh học - nền tảng phát triển bền vững” trên Tạp chí điện tử Nông nghiệp và Môi trường sẽ phản ánh những nỗ lực, kết quả, thách thức trong công cuộc giữ rừng, phát triển rừng, bảo tồn và đa dạng sinh học của lực lượng Kiểm lâm và các vườn Quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, rừng phòng hộ tiêu biểu của đất nước. Qua đó, tôn vinh vai trò của rừng trong việc phòng hộ đầu nguồn, điều hòa khí hậu, duy trì sự sống và sinh kế cộng đồng. Đồng thời khẳng định quyết tâm của Việt Nam trên con đường phát triển xanh, hài hòa với thiên nhiên.

Khi bảo tồn gắn với trách nhiệm toàn cầu
Năm 2025 được xem là một trong những giai đoạn nhiều thách thức nhất đối với công tác bảo tồn tại Vườn quốc gia Xuân Thủy. Biến đổi khí hậu toàn cầu tiếp tục thể hiện những tác động ngày càng rõ nét, với thời tiết cực đoan, các cơn bão mạnh liên tiếp đổ bộ vào khu vực ven biển miền Bắc. Cùng với đó là sức ép không nhỏ từ hoạt động sinh kế, khai thác tài nguyên của cộng đồng vùng đệm – những yếu tố tiềm ẩn nguy cơ tác động trực tiếp đến hệ sinh thái đất ngập nước vốn rất nhạy cảm.

anh-1---rung-qg-xuan-thuy_1769329866.jpg
Rừng ở Vườn Quốc gia Xuân Thuỷ

Trong bối cảnh ấy, việc Vườn quốc gia Xuân Thủy không ghi nhận vụ việc xâm hại nghiêm trọng nào tại phân khu bảo vệ nghiêm ngặt trong năm qua cho thấy hiệu quả rõ rệt của cách tiếp cận quản lý tổng hợp. Thông qua tăng cường phối hợp liên ngành, duy trì tuần tra thường xuyên, kết hợp chặt chẽ giữa kiểm soát thực địa và tuyên truyền, phổ biến pháp luật, công tác bảo vệ tài nguyên thiên nhiên đã từng bước đi vào nền nếp, tạo được sự đồng thuận và tham gia của chính quyền địa phương cũng như cộng đồng dân cư vùng đệm.
Một minh chứng sinh động cho hiệu quả bảo tồn chính là kết quả giám sát chim di cư trong mùa 2024–2025. Việc ghi nhận hơn 100 cá thể Cò thìa châu Á cùng hàng nghìn cá thể chim nước quý hiếm khác không chỉ mang ý nghĩa về mặt khoa học, mà còn phản ánh trạng thái ổn định và tính toàn vẹn sinh thái của hệ sinh thái đất ngập nước Xuân Thủy. Đó là chỉ dấu quan trọng khẳng định vai trò của khu vực này trong mạng lưới các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế, đồng thời là điều kiện tiên quyết để Việt Nam thực hiện đầy đủ các cam kết trong khuôn khổ các công ước, thỏa thuận bảo tồn toàn cầu.
Xuân Thủy, vì thế, không chỉ đơn thuần là một vườn quốc gia. Khu vực này đồng thời mang trên mình nhiều “danh hiệu sinh thái” đặc biệt: Khu Ramsar đầu tiên của Việt Nam, vùng lõi quan trọng của Khu Dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng và mới đây nhất là danh hiệu Vườn Di sản ASEAN. Những danh hiệu ấy vừa là sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế, vừa đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với năng lực quản lý, bảo tồn và phát triển bền vững.

anh-2--chim-o-vuon-quoc-gia-xuan-thuy_1769329866.jpg
Chim ở Vườn Quốc gia Xuân Thuỷ

Chia sẻ với phóng viên, ông Doãn Cao Cường, Giám đốc Vườn quốc gia Xuân Thủy, nhấn mạnh:“Mỗi danh hiệu quốc tế đi kèm với những tiêu chuẩn rất khắt khe. Điều quan trọng nhất là chúng tôi không xem đó là ‘tấm biển treo tường’, mà coi đó là động lực để nâng cao năng lực quản lý, bảo tồn và phát triển bền vững. Nếu không làm tốt từ thực chất, thì danh hiệu cũng không có ý nghĩa lâu dài”.
Theo ông Doãn Cao Cường, việc Xuân Thủy được công nhận là Vườn Di sản ASEAN trong năm 2025 không phải là kết quả của một nỗ lực nhất thời, mà là thành quả của cả một quá trình dài, bền bỉ. Từ bảo vệ đa dạng sinh học, phục hồi và mở rộng rừng ngập mặn, đến thúc đẩy sự tham gia ngày càng rõ nét của cộng đồng địa phương trong bảo tồn tài nguyên – tất cả đã tạo nên nền tảng vững chắc để Xuân Thủy đáp ứng được những tiêu chuẩn quốc tế ngày càng khắt khe, đồng thời khẳng định vị thế của một mô hình bảo tồn gắn với phát triển bền vững trong bối cảnh toàn cầu hóa và biến đổi khí hậu.
Sinh kế bền vững – chìa khóa của bảo tồn lâu dài
Một trong những chuyển biến quan trọng và cũng là điểm sáng nổi bật trong công tác quản lý, bảo tồn tại Vườn quốc gia Xuân Thủy những năm gần đây chính là cách tiếp cận “bảo tồn gắn với sinh kế”. Thực tiễn cho thấy, nếu chỉ dừng lại ở các biện pháp bảo vệ nghiêm ngặt mà không giải quyết bài toán sinh kế cho cộng đồng vùng đệm, thì áp lực khai thác tài nguyên vẫn luôn hiện hữu và khó có thể kiểm soát một cách bền vững.
Xuất phát từ nhận thức đó, Ban quản lý Vườn quốc gia Xuân Thủy đã chủ động triển khai đồng bộ nhiều mô hình sinh kế thân thiện với môi trường, hướng tới mục tiêu vừa tạo sinh kế ổn định cho người dân, vừa giảm thiểu tác động tiêu cực lên hệ sinh thái đất ngập nước. Đây được xem là bước chuyển quan trọng từ tư duy “bảo tồn đơn tuyến” sang mô hình bảo tồn dựa vào cộng đồng – một xu hướng đang được nhiều khu bảo tồn trên thế giới áp dụng.
Trong số các mô hình đang được triển khai, mô hình nuôi tôm sú quảng canh trong rừng ngập mặn được đánh giá là phù hợp với điều kiện sinh thái đặc thù của Xuân Thủy. Việc kết hợp nuôi trồng thủy sản với bảo vệ và phục hồi rừng ngập mặn không chỉ giúp người dân nâng cao thu nhập mà còn duy trì cấu trúc sinh thái tự nhiên, hạn chế tình trạng chuyển đổi mục đích sử dụng đất gây tổn hại đến môi trường. Kết quả thực tế cho thấy, năng suất nuôi đạt và vượt mức trung bình đề ra, trong khi hệ sinh thái rừng ngập mặn vẫn được bảo vệ và phục hồi ổn định.
Bên cạnh đó, mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh ứng dụng công nghệ số, giảm phát thải là một hướng đi mới, thể hiện sự chủ động tiếp cận khoa học – công nghệ trong phát triển sinh kế bền vững. Việc áp dụng các giải pháp quản lý môi trường ao nuôi tự động, cho ăn bằng thiết bị thông minh, giám sát qua internet không chỉ nâng cao hiệu quả sản xuất mà còn giảm thiểu rủi ro ô nhiễm môi trường – một vấn đề vốn rất nhạy cảm tại các khu vực đất ngập nước ven biển.

anh-3--nuoi-ong-o-vuon-qg-xuan-thuy_1769329868.jpg
Mô hình nuôi ong với thương hiệu “Mật ong sú vẹt” đem lại thu nhập ổn định cho người dân

Đáng chú ý, mô hình nuôi ong ngoại gắn với xây dựng và phát triển thương hiệu “Mật ong sú vẹt” đã mở ra hướng đi mới trong khai thác giá trị kinh tế từ hệ sinh thái rừng ngập mặn mà không làm tổn hại đến tài nguyên. Việc tổ chức sản xuất theo mô hình có kiểm soát, gắn với tập huấn kỹ thuật, giám sát chất lượng và xây dựng thương hiệu đã góp phần nâng cao giá trị sản phẩm, đồng thời tạo thêm sinh kế ổn định cho người dân các xã vùng đệm.
Từ thực tiễn triển khai các mô hình này, có thể thấy sinh kế bền vững không chỉ là giải pháp kinh tế, mà còn là công cụ bảo tồn hiệu quả. Khi người dân trực tiếp hưởng lợi từ tài nguyên thiên nhiên theo cách bền vững, họ sẽ có ý thức hơn trong việc gìn giữ và bảo vệ chính môi trường sống của mình.
Chia sẻ với phóng viên, ông Vũ Quốc Đạt, Phó Giám đốc Vườn quốc gia Xuân Thủy khẳng định: “Bảo tồn không thể tách rời đời sống của người dân địa phương. Khi người dân có sinh kế ổn định, họ sẽ trở thành những ‘người gác rừng’ tự nguyện và hiệu quả nhất”.
Từ Xuân Thủy, bài học về sự gắn kết giữa bảo tồn và sinh kế cho thấy một hướng đi có tính nền tảng: bảo tồn thiên nhiên chỉ thực sự bền vững khi được đặt trong mối quan hệ hài hòa với phát triển kinh tế – xã hội của cộng đồng địa phương. Đây cũng chính là chìa khóa để các khu bảo tồn không chỉ tồn tại, mà còn phát triển bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu và sức ép phát triển ngày càng gia tăng.
Hướng tới năm 2026 - củng cố nền tảng, mở rộng hợp tác
Song song với bảo tồn tài nguyên và phát triển sinh kế bền vững, công tác giáo dục môi trường tại Vườn quốc gia Xuân Thủy được xác định là một “trụ cột mềm” nhưng mang ý nghĩa chiến lược lâu dài. Nếu các hoạt động bảo vệ và phục hồi hệ sinh thái là những giải pháp mang tính trước mắt, thì giáo dục môi trường chính là con đường bền bỉ để tạo dựng nền tảng nhận thức xã hội cho bảo tồn trong tương lai.
Trong năm 2025, Vườn quốc gia Xuân Thủy đã triển khai nhiều chương trình giáo dục môi trường hướng tới học sinh các xã vùng đệm, đồng thời đón tiếp các đoàn nghiên cứu khoa học, sinh viên, du khách trong và ngoài nước đến tìm hiểu, trải nghiệm hệ sinh thái đất ngập nước. Những buổi học ngoài thực địa, những chuyến tham quan quan sát chim di cư hay các hoạt động hưởng ứng Ngày Đất ngập nước Thế giới không chỉ mang lại tri thức, mà còn khơi dậy sự gắn kết cảm xúc giữa con người với thiên nhiên.

anh-4---tham-gia-bao-ton-chim_1769329868.jpg
Cộng đồng tham gia bảo tồn chim ở Vườn Quốc gia Xuân Thuỷ

Chính từ những trải nghiệm trực tiếp ấy, ý thức bảo vệ môi trường được hình thành một cách tự nhiên, bền vững, đặc biệt trong thế hệ trẻ. Đó là cách Xuân Thủy âm thầm “ươm mầm” cho tương lai bảo tồn, nơi mà nhận thức, trách nhiệm và hành động bảo vệ thiên nhiên không còn là mệnh lệnh hành chính, mà trở thành lựa chọn tự giác của cộng đồng.
Bước sang năm 2026, Vườn quốc gia Xuân Thủy xác định rõ định hướng phát triển trên nền tảng đã được gây dựng: tiếp tục củng cố năng lực quản lý bảo tồn, tăng cường giám sát đa dạng sinh học, đẩy mạnh phục hồi rừng ngập mặn và mở rộng hợp tác khoa học – quốc tế. Việc chuẩn bị tổ chức các hội thảo khoa học chuyên sâu, tăng cường hợp tác với các viện nghiên cứu, trường đại học trong và ngoài nước, cùng với triển khai chuyển đổi số trong quản lý và phát triển du lịch sinh thái được kỳ vọng sẽ tạo thêm động lực mới cho quá trình phát triển bền vững.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt và sức ép phát triển kinh tế không ngừng gia tăng, những định hướng này không chỉ mang ý nghĩa đối với riêng Xuân Thủy, mà còn góp phần cung cấp những kinh nghiệm thực tiễn cho công tác quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên ven biển trên phạm vi rộng hơn.

anh-5---thu-luoi-bay-chim_1769329869.jpg
Cán bộ Vườn Quốc gia Xuân Thuỷ thu giữ chim do người dân bắt được để thả về tự nhiên

Nhìn từ Xuân Thủy, có thể thấy rằng bảo tồn thiên nhiên chưa bao giờ chỉ là câu chuyện của rừng, của chim hay của những bãi bồi ven biển. Đó trước hết là câu chuyện của con người – những người đang nỗ lực dung hòa giữa nhu cầu mưu sinh, phát triển kinh tế với trách nhiệm gìn giữ tài nguyên thiên nhiên cho các thế hệ mai sau. Và ở nơi cửa biển ấy, giữa nhịp sống lặng lẽ của rừng ngập mặn và những cánh chim di trú, nhịp sinh thái vẫn đang được gìn giữ một cách bền bỉ, qua từng mùa gió mặn, như một minh chứng sống động cho con đường bảo tồn gắn với phát triển bền vững mà Xuân Thủy đang kiên trì theo đuổi.
Dưới đây là một số hình ảnh ở Vườn Quốc gia Xuân Thuỷ:

anh-chim-4_1769329870.jpg
anh-chim-1_1769329869.jpg
anh-chim-2_1769329869.jpg
anh-chim-3_1769329869.jpg
anh-chim-5_1769329870.jpg
anh-nuoi-ong-2_1769329871.jpg
anh-rung-2_1769329871.jpg

Bài 17: Hạt Kiểm lâm số 14 – tỉnh Thái Nguyên quyết tâm giữ vững gần 36.000 ha rừng

>>>>>> Xin vui lòng xem thêm:

Bài 14: Kiểm lâm liên xã Sơn Động giữ rừng gắn với phát triển kinh tế lâm nghiệp bền vững

Bài 13: Kiểm lâm bám địa bàn giữ màu xanh cho Tân Lạc

Bài 12: Kiểm lâm và cộng đồng cùng đứng tuyến đầu bảo vệ “lá chắn xanh” ở Hải Phòng

Bài 11: Khi cộng đồng trở thành “lá chắn sinh thái” ở Khu bảo tồn thiên nhiên Hang Kia – Pà Cò

Bài 10: Kiểm lâm khu vực VI, tỉnh Tuyên Quang - Khi người dân trở thành “tai mắt” của rừng

Bài 9: Gìn giữ đa dạng sinh học để phát triển lâm nghiệp bền vững ở Bắc Ninh

Bài 8: Kiểm lâm khu vực XII - Sơn La quyết tâm bảo vệ hơn 19.000 ha rừng

Bài 7: Bất cập trong giữ rừng đặc dụng Tây Yên Tử

Bài 6: Bảo vệ rừng và xử lý nghiêm tình trạng phá rừng trồng cà phê ở Sơn La

Bài 5: Giữ rừng Tam Đảo - Tam Dương: Gian nan nhưng quyết tâm không lùi bước

Bài 4: Bảo tồn thiên nhiên để phát triển bền vững ở Bát Xát

Bài 3: Nhiều thách thức trong giữ rừng ở Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống

Bài 2: Bảo tồn và phát triển bền vững Vườn Quốc gia Xuân Sơn - Từ di sản thiên nhiên đến sinh kế cộng đồng

Giữ rừng và bảo tồn đa dạng sinh học - nền tảng phát triển bền vững. Bài 1: Phát triển rừng và bảo tồn đa dạng sinh học ở Vườn Quốc gia Hoàng Liên

Đỗ Hùng