news
Nghiên cứu áp dụng thiết bị radar xuyên mặt đất trong dò tìm công trình ngầm

Nghiên cứu áp dụng thiết bị radar xuyên mặt đất trong dò tìm công trình ngầm

08/01/2026
Thành phố Hồ Chí Minh với hệ thống hạ tầng kỹ thuật ngầm phát triển lâu đời, bao gồm các hạ tầng cấp thoát nước, điện, viễn thông, chiếu sáng… các công trình hạ tầng chồng chéo và không đồng bộ dẫn đến nhiều khó khăn trong việc phối hợp giữa các đơn vị trong quản lý. Theo dõi các tiện ích ngầm thông qua bản đồ hoặc các dấu hiệu vật lý thực sự là điều cần thiết để bảo trì và sửa chữa nhanh chóng, bất cứ khi nào cần thiết, mà không gây ra nhiều cản trở cho cuộc sống hằng ngày.
  • Hiện trạng quản lý và sử dụng đất tại huyện Đông Anh

    Hiện trạng quản lý và sử dụng đất tại huyện Đông Anh

    Đông Anh là huyện nằm ở ở ngõ phía Bắc của TP. Hà Nội. Trong quy hoạch xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2020-2030 và tầm nhìn đến năm 2050, Đông Anh là đô thị lõi, có vị trí quan trọng trong phát triển KT-XH của Thành phố. Nghiên cứu “ Hiện trạng quản lý và sử dụng đất (SDĐ) huyện Đông Anh, TP. Hà Nội” nhằm xác định thực trạng, nâng cao hiệu quả quản lý và SDĐ, đáp ứng yêu cầu phát triển của địa phương.
  • Thực trạng thế chấp quyền sử dụng đất ở huyện Quốc Oai - Hà Nội

    Thực trạng thế chấp quyền sử dụng đất ở huyện Quốc Oai - Hà Nội

    Số liệu của Văn phòng ĐKĐĐ Hà Nội - chi nhánh huyện Quốc Oai cho thấy, giai đoạn 2016 - 2018, việc thực hiện quyền của người SDĐ trên địa bàn diễn ra sôi động với 7.844 hồ sơ, trong đó thế chấp QSDĐ 2.885 hồ sơ, chiếm 36,78% giao dịch các quyền trên toàn huyện. Kết quả điều tra cho thấy, lý do chính để thế chấp QSDĐ là vay vốn để đầu tư sản xuất kinh doanh. Người dân chủ yếu đến thế chấp tại các ngân hàng và các cơ sở tín dụng. Theo ý kiến của người dân, cần rút ngắn thời gian hoàn thành các thủ tục, giảm phí và lệ phí liên quan đến việc thực hiện QSDĐ.
  • Tối ưu liều lượng phèn sắt Fecl3 trong xử lý nước mặt từ sông Đồng Nai

    Tối ưu liều lượng phèn sắt Fecl3 trong xử lý nước mặt từ sông Đồng Nai

    Nước mặt chứa đất sét, khoáng chất, vi khuẩn, vi sinh vật, kim loại hòa tan, chất hữu cơ, độ màu và các chat lơ lửng khác.
  • Ứng dụng GIS thành lập bản đồ chuyên đề rác thải sinh hoạt tại Thành phố Bắc Giang

    Ứng dụng GIS thành lập bản đồ chuyên đề rác thải sinh hoạt tại Thành phố Bắc Giang

    Rác thải sinh hoạt (RTSH) có nguy cơ gây ÔNMT cao nếu không được xử lý tốt. Vì thế, ứng dụng hệ thống thông tin địa lý thành lập bản đồ quản lý RTSH nhằm tìm ra các giải pháp tối ưu trong quản lý RTSH, giảm thiểu ÔNMT hiện nay tại TP. Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. Sử dụng phần mềm Mapinfo để thành lập bản đồ chuyên đề RTSH với các nội dung: Nền đồ giải lượng RTSH bình quân mỗi ngày, vị trí các điểm hẹn thu gom rác thải.
  • Cung cấp nước sạch và thất thoát nước tại Thành phố Hồ Chí Minh

    Cung cấp nước sạch và thất thoát nước tại Thành phố Hồ Chí Minh

    Tài nguyên nước (TNN) sạch là một nguồn tài nguyên vô cùng quý giá và hữu hạn, ngày nay dưới tác động của nhiều yếu tố chính vì vậy việc khai thác và sử dụng hợp lý TNN một các có hiệu quả đang là yêu cầu cấp thiết. Vì vậy, việc duy trì tỷ lệ thất thoát nước sạch trên hệ thống cấp nước cần phải được nghiên cứu và duy trì ở mức phù hợp nhất có thể.
  • Xây dựng phương pháp đánh giá rủi ro do biến đổi khí hậu đến tài nguyên nước mặt

    Xây dựng phương pháp đánh giá rủi ro do biến đổi khí hậu đến tài nguyên nước mặt

    Trong bối cảnh của biến đổi khí hậu (BĐKH), TNN mặt sẽ là ngành bị ảnh hưởng nghiêm trọng cả về số lượng và chất lượng. BĐKH sẽ làm thay đổi chu trình thủy văn và tác động đến việc phân phối lại nguồn nước theo không gian và thời gian. Bài báo đề cập đến phương pháp đánh giá rủi ro do BĐKH đến TNN mặt bao gồm cả phương pháp truyền thống đến hiện đại theo hướng tiếp cận mới nhất của IPCC về đánh giá rủi ro do BĐKH.
  • Khả năng ứng dụng bể FBBR sử dụng chất mang hạt PVA gel trong xử lý nước thải ô nhiễm hữu cơ cao

    Khả năng ứng dụng bể FBBR sử dụng chất mang hạt PVA gel trong xử lý nước thải ô nhiễm hữu cơ cao

    Theo Tổng Cục thống kê, ngành thủy sản ướp đông là một trong những ngành công nghiệp chủ yếu của nước ta, sản phẩm của ngành này đạt 1463,4 nghìn tấn trong năm 2013 và tăng lên 1666 nghìn tấn trong năm 2015 (5).
  • Nghiên cứu khả năng cải thiện chất lượng nước của vùng đất ngập nước tự nhiên Vườn Quốc gia Tràm Chim

    Nghiên cứu khả năng cải thiện chất lượng nước của vùng đất ngập nước tự nhiên Vườn Quốc gia Tràm Chim

    Đề tài được thực hiện tại Vườn Quốc gia Tràm Chim (Vườn), tỉnh Đồng Tháp nhằm đánh giá khả năng cải thiện chất lượng nước mặt của đất ngập nước tự nhiên. Nghiên cứu đã tiến hành 3 đợt thu mẫu nước (đầu mùa lũ, giữa lũ và sau lũ) ở hai khu vực bên trong và ngoài Vườn quốc gia thông qua các chỉ số pH, DO, EC, BOD5, COD, NO3-, TN, TP, TSS và Coliforms. Kết quả cho thấy khu đất ngập nước có xu hướng điều hòa các chất ô nhiễm với phần lớn nồng độ các chỉ số ô nhiễm giảm sau lũ. Đồng thời, cũng nhận thấy lũ đã bổ sung các chất ô nhiễm cho Vườn. Nghiên cứu cũng cho thấy việc quản lý nước ở các khu chủ yếu nhằm vào quản lý cống để bảo đảm lượng nước trong Vườn hạn chế cháy rừng. Với việc quản lý nước như vậy, Vườn có thể cung cấp khoảng 10 triệu m3 nước sau lũ cho địa phương.
  • Chất clo khử trùng dạng hạt tại các trạm cấp nước khu vực miền Nam - công trình nghiên cứu điển hình tại xí nghiệp cấp nước tỉnh Sóc Trăng

    Chất clo khử trùng dạng hạt tại các trạm cấp nước khu vực miền Nam - công trình nghiên cứu điển hình tại xí nghiệp cấp nước tỉnh Sóc Trăng

    Tỉnh Sóc Trăng thuộc khu vực ĐBSCL, với đặc thù cấp nước khu vực được chia nhỏ, bao gồm nhiều trạm cấp nước riêng lẻ, công suất từ vài chục đến vài trăm m3/ngđ, nguồn nước thô đầu vào được cấp từ nguồn nước ngầm mạch sâu, chất lượng nước thô ổn định, tuy nhiên cần xử lý qua các giai đoạn tùy thuộc vào từng khu vực, đặc biệt bắt buộc trải qua giai đoạn khử trùng trước khi nước được cấp đến hộ tiêu thụ. Việc đầu tư hệ thống khử trùng bằng clo dạng khí hóa lỏng đến từng trạm cấp nước nhỏ lẻ là không hiệu quả, chi phí đầu tư ban đầu lớn, dễ dàng xảy ra sự cố nguy hại, từ đó phương án châm clo dạng hạt được nghiên cứu thực hiện. Hiện nay, chưa có nghiên cứu thực hiện phương pháp châm clo dạng hạt trực tiếp tại các trạm cấp nước, nghiên cứu được thực hiện tại trạm cấp nước Mỹ Xuyên 2, tỉnh Sóc Trăng, công suất cấp nước đạt 2.000 m3/ngđ. Mô hình thực hiện bao gồm hệ thống pha trộn clo dạng hạt, đồng hồ cơ phát xung, bơm định lượng. Dung dịch clo 2% từ hệ thống pha trộn clo dạng hạt được châm
  • Đánh giá tác động của người dân đến khu vực Vườn quốc gia Tràm Chim tại xã Phú Thọ, Phú Đức, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp

    Đánh giá tác động của người dân đến khu vực Vườn quốc gia Tràm Chim tại xã Phú Thọ, Phú Đức, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp

    Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp đánh giá có sự tham gia của cộng đồng (PRA) dựa trên bốn nhóm đối tượng nam, nữ, trẻ em và người nhập cư bằng những công cụ: Bản đồ tài nguyên, sơ đồ lát cắt, phỏng vấn bán cấu trúc, đánh giá xếp hạng, lịch thời vụ. Kết quả nghiên cứu xác định các hoạt động sinh kế của người dân như: Bắt cá, bắt ong, khai thác mai dương, tràm, chăn nuôi và các tác động của nó đến vườn quốc gia (VQG). Cùng với việc xâm nhập này người dân cũng gây ra những hệ lụy tiêu cực cho VQG như cháy rừng do tàn thuốc hoặc do bắt ong, hoặc ô nhiễm môi trường do rác thải nhựa trong quá trình xâm nhập để lại. Ngoài ra, trong nghiên cứu còn sử dụng phần mềm MapInfo để xây dựng bản đồ thể hiện con đường xâm nhập và các vị trí bị người dân khai thác tài nguyên một cách thường xuyên.
  • Nghiên cứu xử lý phụ phẩm trồng trọt thành phân hữu cơ sinh học bằng chế phẩm Fito-BiomixRR

    Nghiên cứu xử lý phụ phẩm trồng trọt thành phân hữu cơ sinh học bằng chế phẩm Fito-BiomixRR

    Hiện nay, nền nông nghiệp đang hướng tới mục tiêu an toàn và bền vững. Do vậy, chiến lược sử dụng phân hữu cơ sinh học (PHCSH) làm từ phụ phẩm nông nghiệp (PPTT) được sản xuất từ các nguồn nguyên liệu hữu cơ khác nhau trên đồng ruộng như rơm, rạ… đã góp phần nâng cao năng suất, chất lượng nông sản đồng thời bảo vệ môi trường.
  • Một số vấn đề đặt ra về bảo vệ môi trường biển ở Việt Nam hiện nay

    Một số vấn đề đặt ra về bảo vệ môi trường biển ở Việt Nam hiện nay

    Vùng biển nước ta có điều kiện tự nhiên và TNTN thuận lợi cho phát triển KT-XH, văn hóa và môi trường; có vị trí địa chính trị đặc biệt quan trọng về QP-AN; là một thành phần rất quan trọng đối với các quá trình phát triển tự nhiên, các hoạt động sản xuất và du lịch của nhân dân từ bao đời nay. Tuy nhiên, vấn đề ô nhiễm biển ở Việt Nam hiện nay đang nằm ở mức báo động đỏ, gây ra những thiệt hại nghiêm trọng đến sự phát triển KT-XH đất nước, đặt ra nhiều vấn đề phức tạp liên quan đến an ninh quốc gia.
  • Thực trạng kiểm soát ô nhiễm môi trường đất ở Việt Nam hiện nay

    Thực trạng kiểm soát ô nhiễm môi trường đất ở Việt Nam hiện nay

    Trong những năm gần đây, do tác động của tự nhiên cùng với sự bùng nổ về dân số, công nghiệp chế biến, khu chế xuất, đô thị, giao thông vận tải… đã có những tác động tiêu cực đến môi trường sống nói chung. Trong sản xuất nông nghiệp, việc sử dụng các sản phẩm hóa học ngày một gia tăng làm cho môi trường đất bị ô nhiễm nặng và đang dần bị suy thoái nghiêm trọng. Đó là, việc lạm dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật hay sử dụng nước thải, chất thải (rác thải, bùn thải) chưa qua hoặc xử lý không đạt yêu cầu để tưới, làm phân bón… là những nguyên nhân chính dẫn đến ONMT đất.
  • Phân loại lớp phủ,sử dụng đất bằng phương pháp định hướng đối tượng sử dụng ảnh LANDSAT

    Phân loại lớp phủ,sử dụng đất bằng phương pháp định hướng đối tượng sử dụng ảnh LANDSAT

    Phân loại lớp phủ/sử dụng đất (LP/SDĐ) bằng ảnh viễn thám với thách thức lớn nhất là cách phân biệt các lớp đối tượng theo giá trị phổ khác nhau, cấu trúc, hình dạng và yếu tố không gian. Bài báo trình bày cách phân loại định hướng đối tượng trong việc phân LLP/SDĐ với tư liệu ảnh LANDSAT, độ phân giải 30m. Hệ thống LLP/SDĐ được phân loại theo CORINE với 3 cấp 1,2,3 và cấp 3 có 12 LLP/SDĐ. Việc chiết xuất 12 loại hình LLP/SDĐ thông qua việc phân cấp các đối tượng theo đặc trưng phổ phản xạ, giá trị độ sáng và chỉ số thực vật NDVI. Kết quả phân loại đạt độ chính xác 0.723%.
  • Đánh giá hiệu quả kinh tế của một số mô hình canh tác giống Đậu thích ứng với biến đổi khí hậu tại Sơn La

    Đánh giá hiệu quả kinh tế của một số mô hình canh tác giống Đậu thích ứng với biến đổi khí hậu tại Sơn La

    Có thể thấy biến đổi khí hậu (BĐKH) đang ngày càng có tác động sâu rộng và trực tiếp tới năng suất, chất lượng sản xuất nông nghiệp, nhiệt độ trung bình năm ở nhiều huyện tại Tây Bắc tăng từ 2-30C, nắng hạn xảy ra thường xuyên hơn, buộc nền nông nghiệp ở Sơn La phải có những biện pháp thích ứng với những tác động mới này. Kết quả nghiên cứu của Trường Đại học Tây Bắc cho thấy: Đậu xanh, Đậu đen, Lạc sinh trưởng phát triển tốt hơn trong điều kiện trồng thuần, ngược lại đậu nho nhe trồng xen lại sinh trưởng và phát triển tốt hơn so với trồng thuần; Mức độ nhiễm sâu bênh hại khi trồng xen cao hơn khi trồng thuần ở tất cả các mô hình; Năng suất thực thu của các mô hình trồng thuần các giống đậu dao động từ 9,7 - 23,3 tạ/ha.
  • Bằng mô hình nhận biết thuộc tính đánh giá tính bền vững trong sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh

    Bằng mô hình nhận biết thuộc tính đánh giá tính bền vững trong sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh

    Bài báo đã thực hiện đánh giá và đề xuất giải pháp nâng cao tính bền vững sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh góp phần thực hiện tốt mục tiêu phát triển bền vững. Thực hiện đánh giá đối với 04 hệ thống canh tác (lúa màu, cao su, khoai mì và mía), kết quả đánh giá sẽ làm cơ sở khoa học cho công tác LQH&KH SDĐ của huyện Dương Minh Châu hiện nay.
  • Đánh giá đặc điểm nông sinh học của một số giống Đậu bản địa phục vụ công tác chọn tạo giống trong bối cảnh biến đổi khí hậu tại khu vực Tây Bắc

    Đánh giá đặc điểm nông sinh học của một số giống Đậu bản địa phục vụ công tác chọn tạo giống trong bối cảnh biến đổi khí hậu tại khu vực Tây Bắc

    Nghiên cứu này nhằm đánh giá một số đặc điểm nông sinh học của các mẫu giống cây họ Đậu bản địa, nhằm xác định mức độ đa dạng nguồn gen đồng thời tuyển chọn, đề xuất các mẫu giống có năng suất và chất lượng tốt, làm tiền đề để đưa ra biện pháp canh tác phù hợp trong điều kiện những tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH) ngày càng rõ rệt và giúp người dân địa phương có sinh kế bền vững. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các mẫu giống Đậu xanh, Đậu đen bản địa có độ đa dạng nguồn gen khá cao, thể hiện ở hầu hết các tính trạng theo dõi. Các mẫu giống Đậu xanh có thời gian sinh trưởng giao động từ 62 - 71 ngày, chiều cao cây 63,8 - 96,86 cm, số nhánh cấp 1 từ 2,66 - 4,16 nhánh/cây, năng suất hạt khô từ 6,02 - 9,88 tạ/ha. Các giống đậu đen có thời gian sinh trưởng từ 108 - 116 ngày, chiều cao cây từ 82,94 - 96,4 cm, số nhánh cấp 1 từ 6,3 - 9,76 nhánh/cây, năng suất thực thu 7,23 - 12,89 tạ/ha. Bước đầu đã xác định mẫu giống tốt có năng suất vượt trội là ĐX6 (Đậu xanh Mường La) và ĐĐ7 (Đậu đen Hát