news
Quảng Nam: Lo ngại xảy ra sự cố môi trường do dự án xử lý CTR chậm tiến độ

Quảng Nam: Lo ngại xảy ra sự cố môi trường do dự án xử lý CTR chậm tiến độ

10/04/2026
Nhiều bãi rác tại Quảng Nam đang rơi vào tình trạng xuống cấp và quá tải, dẫn đến các sự cố môi trường. Trong khi đó, các dự án xử lý chất thải rắn theo công nghệ hiện đại lại chậm tiến độ đang ảnh hưởng đến việc thu gom, xử lý rác thải của địa phương.
  • Đánh giá rủi ro của nước thải từ trạm xử lý nước thải tập trung Khu công nghiệp Việt Hương 2 tỉnh Bình Dương đối với nguồn tiếp nhận và đề xuất giải pháp giảm thiểu

    Đánh giá rủi ro của nước thải từ trạm xử lý nước thải tập trung Khu công nghiệp Việt Hương 2 tỉnh Bình Dương đối với nguồn tiếp nhận và đề xuất giải pháp giảm thiểu

    Nghiên cứu đánh giá rủi ro môi trường của hệ thống xử lý nước thải (XLNT) KCN (KCN) tập trung Việt Hương 2 trên địa bàn tỉnh Bình Dương và đề xuất giải pháp quản lý hiệu quả dựa trên cơ sở các dữ liệu được thu thập, phân tích, đánh giá về chất lượng nguồn nước mặt, chất lượng nước thải sau xử lý, mức độ xả thải của các nhà máy trong KCN từ đó làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp giảm thiểu đang ngày càng cấp bách và là cơ sở để cơ quan quản lý giám sát, định hướng các ngành nghề nào cần tiếp nhận vào KCN trong tương lai. Từ cơ cở phân tích chât lượng nước nguồn tiêp nhận sẽ xác định trách nhiệm của các doanh nghiệp và các cơ quan quản lý có liên quan trong công tác quản lý nước thải qua đố đề xuất giải pháp phòng ngừa, khắc phục và giảm thiểu các sự cố môi trường do hoạt động xả nước thải từ KCN tập trung Việt Hương 2.
  • Thực trạng khai thác nguồn thu tài chính từ đất đai tại huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên

    Thực trạng khai thác nguồn thu tài chính từ đất đai tại huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên

    Huyện Tây Hòa là huyện nằm ở phía Tây Nam tỉnh Phú Yên, cách thành phố Tuy Hòa khoảng 20 km về phía Đông, có Quốc lộ 29, tỉnh lộ ĐT645 chạy qua. Tây Hòa cũng nằm gần Quốc lộ 1A, đường sắt Bắc - Nam, sân bay Tuy Hòa và cảng Vũng Rô - là các đầu mối giao thông quan trọng của tỉnh có tiềm năng rất lớn trong việc thu hút đầu tư trong và ngoài nước trong tương lai. Vào những năm gần đây, ảnh hưởng sức nóng của thị trường bất động sản trong nước nói chung và của huyện Tây Hòa nói riêng đã tác động trực tiếp đến nhu cầu thực hiện các quyền của người sử dụng đất, do đó góp phần làm tăng nguồn thu ngân sách từ đất đai. Xuất phát từ các vấn đề thực tế nêu trên, nghiên cứu này được tiến hành với mục đích chính là đánh giá thực trạng khai thác nguồn thu tài chính từ đất đai để từ đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác thu tài chính từ đất đai tại địa phương.
  • Thử nghiệm xử lý nước kênh Văn Thánh bằng mô hình kết hợp cỏ Vetiver cùng giá thể sỏi - cát trong điều kiện tĩnh

    Thử nghiệm xử lý nước kênh Văn Thánh bằng mô hình kết hợp cỏ Vetiver cùng giá thể sỏi - cát trong điều kiện tĩnh

    Bên cạnh các công nghệ xử lý nước thải truyền thống phương pháp xử lý sinh học bằng thực vật là một trong những hướng xử lý bền vững, ít tốn năng lượng. Với mục tiêu xử lý nước kênh rạch Văn Thánh vốn có thành phần chính là nước sinh hoạt của đô thị, đề tài sẽ khảo sát, đánh giá thích nghi, sinh trưởng của cỏ Vetiver. Đồng thời đánh giá hiệu quả xử lý và loại bỏ thành phần ô nhiễm COD, P-PO43- , N-NH4+ bằng mô hình đất ngập nước loại vật liệu là sỏi chạy song song cùng với mô hình thủy canh nhằm đánh giá khả năng xử lý của cỏ khi có giá thể bám vào và không có giá thể trong điều kiện tĩnh với thời gian lưu 7 ngày. Kết quả nghiên cứu ban đầu cho thấy, cỏ vetiver có khả năng sinh trưởng tốt trong môi trường nước kênh rạch, đồng thời kiểm soát tốt chất lượng nước thông qua một số chỉ tiêu như COD, P-PO43- , N-NH4+đạt quy chuẩn QCVN 08:2015/BTNMT.
  • Ảnh hưởng của việc đốt vàng mã đến xã hội, môi trường và sức khỏe

    Ảnh hưởng của việc đốt vàng mã đến xã hội, môi trường và sức khỏe

    Việc đốt quá nhiều vàng mã với những loại đồ đắt tiền, với nhiều kích thước to nhỏ khác nhau đã làm biến tướng nét văn hóa tâm linh vốn có từ lâu đời của người Việt. Thực trạng việc đốt vàng mã vẫn tiếp tục bị lạm dụng, đã và đang diễn ra rất nhiều nơi. Tuy nhiên, những nghiên cứu về hành vi sử dụng vàng mã từ người dân vẫn còn rất hạn chế. Mục đích của nghiên cứu này là khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sử dụng vàng mã của người dân theo mô hình TPB và sử dụng phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA. Kết quả bước đầu cho thấy, các yếu tố thái độ, nhận thức và áp lực xã hội có ảnh hưởng đến hành vi sử dụng vàng mã trong thực tế và yếu tố thái độ có ảnh hưởng mạnh nhất đến hành vi này. Bên cạnh đó, nghiên cứu ảnh hưởng của việc đốt vàng mã đến xã hội, sức khỏe và môi trường.
  • Luận bàn một số bất cập trong quản lý đất đai

    Luận bàn một số bất cập trong quản lý đất đai

    Để đất đai thực sự trở thành tài nguyên được khai thác hiệu quả theo đúng quy luật của thị trường thì nhất thiết cần phải giải quyết tận gốc nguyên nhân cốt lõi của nó bằng khuôn khổ hệ thống pháp luật đồng nhất về quyền sở hữu; được xác lập đầy đủ, được bảo vệ công khai, minh bạch bởi pháp luật, được giao dịch theo nguyên tắc thị trường.
  • Địa chính biển: Những nghiên cứu phục vụ yêu cầu đang đặt ra trong giai đoạn hiện nay

    Địa chính biển: Những nghiên cứu phục vụ yêu cầu đang đặt ra trong giai đoạn hiện nay

    Địa chính biển (ĐCB) được hiểu là một thiết chế QLTH không gian biển và lãnh hải quốc gia. Việt Nam là một quốc gia biển nên việc nghiên cứu cơ sở hình thành hệ thống ĐCB riêng sẽ cung cấp các công cụ, thể chế, giúp hoàn thiện pháp luật trong quản lý và quy hoạch không gian biển hiệu quả, bền vững. Việc quản lý một cách thống nhất lãnh thổ đất liền và lãnh thổ biển là yêu cầu cấp thiết trong tình hình hiện nay, không chỉ ở Việt Nam mà còn đối với các nước khác trên thế giới.
  • Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm định hướng phát triển Khu công nghiệp Nhơn Trạch 6 theo mô hình sinh thái

    Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm định hướng phát triển Khu công nghiệp Nhơn Trạch 6 theo mô hình sinh thái

    Từ những năm 2000, khái niệm cộng sinh công nghiệp, Khu công nghiệp (KCN) sinh thái (KCNST) đã được các tổ chức, trường đại học quan tâm nghiên cứu trong điều kiện Việt Nam. Nghiên cứu này kế thừa các tiêu chí đánh giá của một số nghiên cứu trước (1) và dựa vào Nghị định 82/2018/NĐ-CP ngày 22/5/2018 quy định về quản lý KCN, khu kinh tế (2). Kết quả của nghiên cứu là cơ sở để đánh giá mức độ “sinh thái” của KCN nhơn Trạch 6, từ đó lập kế hoạch hành động để định hướng phát triển KCN Nhơn Trạch 6 thành KCN sinh thái.
  • Xây dựng cơ sở khoa học và thực tiễn việc thể hiện chủ quyền quốc gia trên các xuất bản phẩm bản đồ

    Xây dựng cơ sở khoa học và thực tiễn việc thể hiện chủ quyền quốc gia trên các xuất bản phẩm bản đồ

    Ở nước ta các văn bản QPPL hiện hành liên quan tới việc thể hiện chủ quyền quốc gia trên các xuất bản phẩm bản đồ đã qui định “nghiêm cấm việc không thể hiện hoặc thể hiện không đúng chủ quyền quốc gia”. Vì vậy, cần xác định rõ các đặc điểm thông tin phản ánh chủ quyền quốc gia và mối liên hệ các nội dung phản ánh trên các xuất bản phẩm bản đồ, cơ sở khoa học và thực tiễn xác định nội dung, hình thức, độ chính xác việc thể hiện chủ quyền quốc gia trên các sản phẩm bản đồ. Kết quả này sẽ là cơ sở để các cơ quan QLNN tham khảo để bổ sung, hoàn thiện qui định hướng dẫn, kiểm tra việc thể hiện chủ quyền quốc gia trên xuất bản phẩm bản đồ.
  • Ảnh hưởng của pH và nồng độ chì đến khả năng hấp thu chì của Cây Phát tài

    Ảnh hưởng của pH và nồng độ chì đến khả năng hấp thu chì của Cây Phát tài

    Cây phát tài (Dracaena sanderiana) được trồng trong các hệ thống thủy canh trong một nhà kính với 4 mức độ pH (3,5; 4,0; 4,5; và 5,0) và 5 nồng độ chì (Pb(NO3)2) (0, 1000, 2000, 3000, 4000ppm). Mục đích của nghiên cứu nhằm mục đích khảo sát khả năng hấp thu chì, ứng dụng xử lý ô nhiễm chì. Kết quả cho thấy rằng, pH và nồng độ chì có ảnh hưởng đến khả năng hấp thu chì của cây phát tài. Cây sinh trưởng, phát triển và hấp thu chì tốt nhất ở mức pH là 4,5. Ở nồng độ chì càng cao thì khả năng tích lũy chì của cây càng lớn. Khả năng tích lũy chì trong rễ lớn hơn thân và lá rất nhiều. Hàm lượng chì tích lũy trong cây chiếm khoảng 2,58 đến 4,24%. Cây phát tài có tiềm năng tích lũy sinh học và có khả năng xử lý chì.
  • Tạp chí Thanh niên được Hội đồng Giáo sư Nhà nước công nhận vào Danh mục Tạp chí khoa học tính điểm

    Tạp chí Thanh niên được Hội đồng Giáo sư Nhà nước công nhận vào Danh mục Tạp chí khoa học tính điểm

    Ngày 8/11, Chủ tịch Hội đồng Giáo sư Nhà nước Nguyễn Kim Sơn đã ký Quyết định số 26/QĐ-HĐGSNN công nhận Tạp chí Thanh niên là một trong các Tạp chí khoa học vào danh mục Tạp chí được tính điểm đối với Hội đồng giáo sư liên ngành Triết học - Xã hội học - Chính trị học. Đồng thời, Tạp chí Thanh niên cũng là Tạp chí duy nhất của Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh có tên trong danh mục Tạp chí được tính điểm. Đây là mốc son đầy tự hào của Tạp chí Thanh niên trong chặng đường 59 năm, kể từ ngày thành lập đến nay.
  • Nghiên cứu công nghệ ủ hiếu khí để xử lý bùn thải sinh học phát sinh từ các hệ thống xử lý nước thải

    Nghiên cứu công nghệ ủ hiếu khí để xử lý bùn thải sinh học phát sinh từ các hệ thống xử lý nước thải

    Hiện nay, các công ty - nhà máy sản xuất đa số đều được quy hoạch vào các khu công nghiệp, khu chế xuât để thuận tiện cho việc quản lý cũng như kiểm soát về vấn đề phát sinh chất thải. Trong các khu công nghiệp phần lớn đã đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải (XLNT) tập trung. Tuy nhiên, hàng triệu tấn bùn thải phát sinh từ các hệ thống XLNT tập trung này hiện chưa được xử lý hiệu quả, tiềm ẩn nguy cơ ONMT và đe dọa đến sức khỏe con người.
  • Đánh giá xu hướng thay đổi khí hậu ở tỉnh Ninh Thuận trong điều kiện biến đổi khí hậu toàn cầu

    Đánh giá xu hướng thay đổi khí hậu ở tỉnh Ninh Thuận trong điều kiện biến đổi khí hậu toàn cầu

    Ninh Thuận là tỉnh duyên hải Nam Trung bộ, có vị trí địa lý: 110 18’ 14’’ - 120 09’ 15’’ độ Vĩ Bắc; 1080 09’ 08’’ - 1090 14’ 25’’ độ Kinh Đông. Phía Bắc giáp tỉnh Khánh Hòa; phía Nam giáp tỉnh Bình Thuận; phía Tây giáp tỉnh Lâm Đồng; phía Đông giáp Biển Đông. Tổng diện tích tự nhiên 3358,3 km2 được bao bọc bởi ba mặt núi và một mặt biển. Phía Tây là vùng núi cao giáp Đà Lạt, phía Bắc và phía Nam có hai dãy núi chạy ra biển. Giữa tỉnh và ven biển là vùng đồng bằng khô cằn nên được mệnh danh là miền Viễn Tây của Việt Nam. Vùng núi cao chiếm 63,2% tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh, vùng gò đồi chiếm 15,4% và đồng bằng là 22,4% (1). Điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình với đặc trưng là khô, nóng, gió nhiều, bốc hơi mạnh từ 670 - 1.827 mm. Nhiệt độ trung bình năm 27oC. Khí hậu chia làm 2 mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 9 - tháng 11; mùa khô từ tháng 12 - tháng 8 năm sau. Lượng mưa trung bình năm 700 - 800 mm ở TP. Phan Rang - Tháp Chàm và tăng dần theo độ cao trên 1.100 mm ở vùng miền
  • Dự báo tác động của biến đổi khí hậu đến vùng Bắc Trung bộ giai đoạn 2016 - 2030

    Dự báo tác động của biến đổi khí hậu đến vùng Bắc Trung bộ giai đoạn 2016 - 2030

    Biến đổi khí hậu (BĐKH) đã và đang tác động mạnh mẽ đến hoạt động sản xuất, đời sống của người dân sáu tỉnh Bắc Trung bộ. BĐKH có xu thế tăng nhiệt độ và tăng lượng mưa trong giai đoạn 2016-2030 ở khu vực Bắc Trung bộ, trái ngược với hiện trạng giảm lượng mưa ở giai đoạn hiện tại. Việc tăng lượng mưa và tăng nhiệt độ làm cho khu vực Bắc Trung bộ bị tác động nhiều đến sinh kế người dân, làm gia tăng tỷ lệ hộ nghèo. Bên cạnh đó BĐKH làm suy giảm tài nguyên đất, đa dạng sinh học.
  • Đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất hằng năm giai đoạn 2016-2018 của Thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng

    Đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất hằng năm giai đoạn 2016-2018 của Thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng

    Trên cơ sở nhu cầu SDĐ của từng ngành, lĩnh vực, kết hợp chỉ tiêu SDĐ đến năm 2020 do cấp tỉnh dự kiến phân bổ, tổng hợp, cân đối các chỉ tiêu SDĐ đến năm 2020 trên địa bàn, TP. Đà Lạt đã tiến hành lập QHSDĐ đến năm 2020 và Kế hoạch SDĐ 5 năm kỳ đầu (2011-2015) và đã được UBND tỉnh Lâm Đồng phê duyệt, qua quá trình tổ chức thực hiện đã đạt được những kết quả tích cực trong khai thác sử dụng tiềm năng đất đai, góp phần quan trọng thúc đẩy KT-XH phát triển.
  • Thách thức trong công tác thẩm định và những kinh nghiệm định giá đất đô thị ở Việt Nam

    Thách thức trong công tác thẩm định và những kinh nghiệm định giá đất đô thị ở Việt Nam

    Theo đánh giá của nhiều chuyên gia, Việt Nam được đánh giá là một quốc gia có tốc độ đô thị hóa phát triển nhanh chóng (theo cách tính tổng số đất /tổng dân số đô thị), nhưng lại tập trung tại một số trung tâm là những thành phố lớn như: Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng... Thời gian tới, tốc độ đô thị hóa tại Việt Nam sẽ còn tiếp tục diễn ra nhanh. Trong năm 2019 và đến đầu năm 2020 tỷ lệ đô thị hóa của Việt Nam dự báo sẽ đạt khoảng 40%. Với tốc độ phát triển nhanh như vậy đến thập niên 40 của Thế kỷ 21, sẽ có khoảng 50% dân số Việt Nam sinh sống tại các đô thị... do đó nhu cầu về đất ở, đất để xây dựng các công trình giao thông, công trình công cộng, hạ tầng đô thị, nhà hàng, khách sạn, văn phòng làm việc… tăng cao, trong khi nguồn cung chưa đáp ứng đủ hệ quả là thị trường luôn tiềm ẩn sức ép đẩy giá đất có những biến động khó lường, tạo ra những thách thức đối với công tác thẩm định giá đất.
  • Những nghiên cứu, trao đổi về sụt lún đất ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long

    Những nghiên cứu, trao đổi về sụt lún đất ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long

    Ở nước ta hiện nay, sụt lún đất đã và đang xảy ra tại một số vùng đồng bằng phù sa châu thổ, đặc biệt là vùng ĐBSCL. Do sự tổ hợp của các nguyên nhân tự nhiên và do con người gây ra, trong đó có yếu tổ lịch sử SDĐ. Bài báo này phân tích hiện trạng sụt lún và một số nguyên nhân gây sụt lún đất tại ĐBSCL dựa trên các bằng chứng khoa học và tài liệu quan trắc từ các đề án và dự án trong nước và quốc tế. Các kết quả này đều đã khẳng định một thực tế rằng hiện tượng sụt lún đất đang diễn ra với tốc độ 1,1 -2,5 cm/năm ở ĐBSCL; và 2-5 cm/năm ở Cà Mau. Các kết quả đều cho thấy có sự thong nhất cao cả về phạm vi lún và tốc độ lún trên phạm vi vùng. Tốc độ lún tăng dần từ phần thượng đồng bằng xuống phần hạ đồng bằng và vùng ven biển; tăng cao ở các khu đô thị và thành phố lớn.
  • Tích tụ, tập trung đất đai và những trao đổi để hướng đến một nền nông nghiệp hiện đại

    Tích tụ, tập trung đất đai và những trao đổi để hướng đến một nền nông nghiệp hiện đại

    Những năm gần đây, nông nghiệp nước ta đã có những bước phát triển lớn, bảo đảm an ninh lương thực, góp phần ổn định KT-XH. Tuy nhiên, để trở thành một nền nông nghiệp hiện đại còn nhiều việc phải làm, trước hết là tư duy phát triển phải phù hợp với quy luật kinh tế thị trường; tổ chức sản xuất, ứng dụng KH&CN, khắc phục tình trạng nhỏ lẻ, manh mún, tự phát... bằng tích tụ và tập trung đất đai, kết nối chặt chẽ hộ nông dân với doanh nghiệp, nâng cao năng lực nội sinh, khả năng thích nghi và ứng phó với thị trường có nhiều biến động.